Tổn Thương Tuỷ Sống: Triệu Chứng Và Phương Pháp Điều Trị

Tổn thương tủy sống là sự hư hỏng ở bất kỳ đoạn nào của tủy sống trong ống sống. Tình trạng này thường do chấn thương cột sống nhưng cũng có thể liên quan đến một số bệnh lý, chẳng hạn như ung thư. Tủy sống bị thương làm giảm/ mất khả năng vận động và cảm giác, người bệnh có nguy cơ bị tê liệt.

Tổn thương tủy sống
Tìm hiểu nguyên nhân, dấu hiệu nhận biết, cách xử lý và điều trị tổn thương tủy sống

Tổn thương tủy sống là gì?

Tủy sống là một bó dây thần kinh và các mô, được bảo vệ bởi ống sống. Đây là phần khoang rỗng được tạo thành từ những đốt sống xếp chồng lên nhau, chứa tủy sống và các dây thần kinh. Chính vì thế mà những tổn thương ở đốt sống hoặc đĩa đệm đều có khả năng gây thương tổn cho tủy sống.

Tổn thương tủy sống là tình trạng thương tổn xảy ra ở bất kỳ đoạn nào của tủy sống, dẫn đến những thay đổi tạm thời hoặc vĩnh viễn đối với chức năng của nó. Khi tủy sống bị tổn thương, những triệu chứng có thể bao gồm mất cảm giác, mất chức năng cơ và chức năng tự chủ ở những bộ phận của cơ thể do tủy sống đảm nhận dưới mức chấn thương.

Tổn thương có thể xảy ra ở một hoặc nhiều vị trí, ở bất kỳ cấp độ nào của tủy sống. Tổn thương có thể là hoàn toàn, bệnh nhân mất toàn bộ chức năng cơ và cảm giác ở đoạn dưới xương cùng. Tổn thương cũng có thể không hoàn toàn, một số tín hiệu thần kinh có thể hoạt động, truyền qua vùng bị thương đến cuối những đoạn tủy sống S4-5 xương cùng.

Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng và vị trí của tổn thương, những triệu chứng có thể từ nhẹ đến nặng như tê hoặc tê liệt. Bệnh nhân cũng có thể từ hồi phục hoàn toàn đến liệt tứ chi (liệt tứ chi vĩnh viễn) hoặc liệt nửa người.

Nguyên nhân gây tổn thương tủy sống

Phần lớn bệnh nhân bị tổn thương tủy sống do chấn thương cột sống. Tuy nhiên một số vấn đề khác cũng có thể gây ra tình trạng này.

1. Chấn thương

Tổn thương tủy sống chủ yếu xảy ra do chấn thương thực hiện. Điều này thường bao gồm những chuyển động đột ngột hoặc quá mức như:

  • Chuyển động lùi lại của đầu
  • Chuyển động về phía trước của đầu
  • Xoay/ xoắn đầu
  • Nén. Cụ thể lực dọc theo trục của cột sống từ đầu hướng xuống và từ xương chậu hướng lên
  • Kéo lệch những đốt sống

Tổn thương tủy sống do chấn thương có thể bao gồm căng, chèn ép hoặc đụng dập, thường kèm theo gãy đốt sống. Những rối loạn bẩm sinh không có triệu chứng có thể gây chấn thương nhỏ lặp lại nhiều lần dẫn đến những khuyết tật lớn về thần kinh.

Chấn thương cột sống thường do những nguyên nhân sau:

Tai nạn xe cơ giới
Tai nạn xe cơ giới là nguyên nhân phổ biến của chấn thương cột sống và tủy sống
  • Tai nạn xe cơ giới (nguyên nhân phổ biến)
  • Té ngã
  • Bạo lực, chẳng hạn như dao đâm hoặc súng bắn
  • Chấn thương thể thao
    • Lặng ở những vùng nước nông
    • Thể thao dưới nước…

2. Bệnh lý

Tổn thương tủy sống có thể là kết quả của những bệnh lý dưới đây:

  • Các bệnh thoái hóa. Cụ thể như thoái hóa đĩa đệm của đốt sống hoặc thoái hóa đốt sống
  • Nhiễm trùng hoặc viêm nhiễm. Chẳng hạn như lao (lao cột sống), HIV, herpes zoster, viêm màng não, viêm tủy, herpes simplex và giang mai
  • Khối u có thể bao gồm u lành hoặc u xương ác tính (ung thư cột sống) chèn ép ống sống và làm tổn thương tủy, khối u phát triển từ tủy/ dây thần kinh
  • Thoát vị đĩa đệm
  • Bệnh mạch máu tủy sống

Đối tượng nguy cơ

Bất kỳ ai cũng có nguy cơ bị tổn thương tủy sống. Tuy nhiên nguy cơ thường cao hơn ở những đối tượng dưới đây:

  • Nam giới
  • Người có độ tuổi từ 16 – 30 tuổi và trên 65 tuổi
  • Có bệnh lý xương khớp
  • Dùng nhiều rượu
  • Vận động viên chơi các môn thể thao tiếp xúc không có thiết bị an toàn hoặc thực hiện những hành vi nguy cơ như bạo lực, lặn xuống vùng nước quá nông…

Dấu hiệu và triệu chứng của tổn thương tủy sống

Tùy thuộc vào mức độ và vị trí tổn thương, những triệu chứng (do bệnh nhân trải qua) và dấu hiệu (do bác sĩ quan sát) khác nhau ở mỗi người.

Dấu hiệu và triệu chứng chung

  • Đau, mất cảm giác và tê ở vùng liên quan
  • Đau nhức dữ dội, thường kèm theo cảm giác châm chích
  • Dị cảm, cảm thấy bỏng rát hoặc ngứa ran ở vùng da bị ảnh hưởng
  • Phát triển những vấn đề về cử động do tổn thương cơ liên quan
  • Mất hoặc giảm khả năng kiểm soát cử động của tay chân
  • Co cứng không kiểm soát được
  • Yếu hoặc bị liệt hoàn toàn
  • Sốc cột sống
    • Mất cảm giác kèm theo liệt vân động sau chấn thương tủy sống nhưng có phản xạ phục hồi dần dần
    • Những phản xạ dưới mức tủy sống chấn thương bị suy giảm hoặc mất đi
    • Những phản xạ trên mức chấn thương không bị ảnh hưởng
  • Dương vật cương cứng (dấu hiệu của tổn thương tủy sống cấp tính)
  • Rối loạn chức năng ruột và bàng quang
  • Khó thở
  • Đầu ở vị trí không tự nhiên
  • Có vấn đề về đi lại.
Đau, mất cảm giác và tê ở vùng liên quan
Đau, mất cảm giác và tê ở vùng liên quan là triệu chứng của tổn thương tủy sống

Tổn thương tủy sống vùng thắt lưng hoặc xương cùng

  • Giảm khả năng kiểm soát chân và hông, hậu môn và hệ thống sinh dục
  • Mất khả năng kiểm soát ruột và bàng quang, bao gồm cả đi tiểu và đại tiện không tự chủ
  • Rối loạn chức năng tình dục

Tổn thương tủy sống lồng ngực

+ Tổn thương T1 – T8

  • Mất khả năng kiểm soát cơ bụng
  • Mất độ ổn định của cột sống

+ Tổn thương T9 – T12

  • Mất một phần khả năng kiểm soát của cơ bụng và thân
  • Liệt nửa người. Tuy nhiên không ảnh hưởng đến chức năng của cổ, cánh tay và bàn tay.

+ Tổn thương trên mức T6

  • Rối loạn phản xạ tự động. Trong đó, huyết áp đột ngột tăng cao đến mức nguy hiểm, có khả năng gây đột quỵ và chết người. Nguyên nhân là do chấn thương khiến hệ thống phản ứng thái quá với kích thích, chẳng hạn như đau dưới mức chấn thương. Những tín hiệu ức chế từ não không thể di chuyển qua tổn thương để xoa dịu phản ứng hưng phấn của thần kinh giao cảm. Những dấu hiệu nhận biết gồm ù tai, buồn nôn, đau đầu, mờ mắt, nghẹt mũi và da đỏ bừng.
  • Sốc thần kinh với các biểu hiện gồm:
    • Máu đọng lại ở các chi
    • Nhịp tim thấp nguy hiểm
    • Huyết áp thấp

Tổn thương tủy sống ở cổ

  • Liệt tứ chi hoặc liệt toàn bộ
  • Nhịp tim thấp
  • Huyết áp thấp
  • Rối loạn chức năng thở
  • Khởi phát những vấn đề liên quan đến điều chỉnh nhiệt độ cơ thể
  • Suy giảm các cơ liên quan đến hô hấp, người bệnh không thở được nếu không có máy thở cơ học hoặc ống nội khí quản.

Chức năng sau tổn thương tủy sống ở cổ như sau:

 Cấp độChức năng hô hấpChức năng vận động
C1 – C4Không thở được nếu không thở máyLiệt hoàn toàn các chi
C5
  •  Khó ho
  • Cần trợ giúp làm sạch dịch tiết
Tê liệt cơ tam đầu, cổ tay và bàn tay
C6Tê liệt những cơ gấp cổ tay, bàn tay và cơ tam đầu
C7 – C8Yếu một số cơ tay, khó thả lỏng và cầm nắm

Phân loại tổn thương tủy sống

Tổn thương tủy sống được phân loại dựa trên nguyên nhân gồm: Lực cơ học, thiếu máu cục bộ (do thiếu máu) và chất độc. Tổn thương cũng có thể được phân thành tổn thương thứ cấp và tổn thương chính.

Dưới đây là những phân loại cụ thể:

1. Tổn thương không hoàn toàn và hoàn toàn

  • Tổn thương hoàn toàn: Mất tất cả chức năng bên dưới vùng bị thương kể cả khi tủy sống không bị cắt đứt.
  • Tổn thương không hoàn toàn: Vẫn giữ được một số cảm giác và chức năng vận động bên dưới mức tổn thương tủy sống. Trong đó, bệnh nhân có thể duy trì một số chuyển động hoặc cảm giác ở những khu vực bên trong từ S4 – S5. Chẳng hạn như co cơ vòng hậu môn bên ngoài tự chủ. Nhiều bệnh nhân vẫn giữ được cảm giác ở da vùng xương cùng mặc dù cảm giác bị suy giảm so với vùng da khác.
Tổn thương tủy sống có thể là tổn thương không hoàn toàn hoặc tổn thương hoàn toàn
Tổn thương tủy sống có thể là tổn thương không hoàn toàn hoặc tổn thương hoàn toàn

2. Tổn thương tủy sống không có bất thường trên X-quang

Dạng tổn thương này xảy ra khi bệnh nhân bị tổn thương tủy sống nhưng không tìm thấy tổn thương cột sống trên hình ảnh X-quang. Thông thường, chấn thương cột sống gây mất ổn định cột sống do các dây chằng bị ảnh hưởng hoặc gãy xương cột sống. Những bất thường có thể gây tổn thương tủy sống hoặc xuất hiện đồng thời. Tuy nhiên nó chỉ được nhìn thấy trên hình ảnh chụp cộng hưởng tử (MRI).

3. Hội chứng dây thần kinh trung ương

Đây là một dạng tổn thương tủy sống phổ biến nhất. Hội chứng dây thần kinh trung ương được đặc trưng bởi sự mất cảm giác và mất cử động ở bàn tay và cánh tay. Điều này thường là kết quả của chấn thương cột sống gây tổn thương tủy sống ở cổ. Từ đó dẫn đến khiếm khuyết lớn ở đường trung tâm của tủy sống.

4. Hội chứng động mạch cột sống trước

Hội chứng này xảy ra do thiếu máu cục bộ ở động mạch cột sống trước, liên quan đến thoát vị đĩa đệm, gãy/ trật khớp đốt sống. Điều này dẫn đến mất chức năng (vận động và cảm giác) của 2/3 phía trước của tủy sống. Những sợi tự trị, đường xoắn ốc tăng dần và đường ống tủy đi xuống là những khu vực bị ảnh hưởng.

Dưới mức chấn thương, cảm giác nhiệt độ, cảm giác đau và chức năng vận động sẽ mất đi. Trong khi đó khả năng nhận biết và xúc giác vẫn còn nguyên.

5. Hội chứng Brown-Séquard

Hội chứng Brown-Séquard xảy ra khi tổn thương tủy sống ở một bên nhiều hơn so với bên còn lại. Tủy sống thường không bị đứt lìa một bên. Tuy nhiên vết thương xuyên thấu, khối u hoặc gãy đốt sống có thể gây tổn thương một phần.

Bên phía chấn thương, bệnh nhân bị mất cảm giác rung, xúc giác, khả năng nhận biết và khả năng vận động.

Hội chứng Brown-Séquard
Hội chứng Brown-Séquard là tình trạng tổn thương tủy sống ở một bên nhiều hơn bên còn lại

6. Hội chứng tủy sống sau (PSD)

Hội chứng tủy sống sau (PSD) hay hội chứng động mạch tủy sống sau là một loại tổn thương tủy sống không hoàn toàn, ít xảy ra nhất sau chấn thương tủy sống. Trong hội chứng này, chỉ những đốt sống lưng của tủy sống bị tổn thương.

Hội chứng tủy sống sau khiến bệnh nhân mất cảm giác rung và khả năng nhận biết dưới mức chấn thương. Trong khi đó xúc giác, chức năng vận động cảm giác đau và nhiệt độ vẫn còn nguyên vẹn. Nếu tổn thương do giang mai, người bệnh có thể bị mất cảm giác nhạy cảm và xúc giác.

7. Hội chứng tủy sống conus và đuôi ngựa

Đây là một tổn thương ở phần cuối của tủy sống, thường ở đốt sống T12 đến L2 của người lớn. Khi hội chứng tủy sống conus và đuôi ngựa xảy ra, người bệnh có thể bị giảm hoặc mất chức năng bàng quang, ruột và tình dục. Ngoài ra người bệnh còn bị mất phản xạ giật mắt cá chân và cảm giác.

Nguyên nhân gây hội chứng thường bao gồm thiếu máu cục bộ, chấn thương thực thể và khối u.

8. Vết thương thấu tủy và không thấu tủy

Dựa vào đường ống vết thương, tổn thương tủy sống được chia thành vết thương thẩu tủy và vết thương không thấu tủy.

Vết thương thấu tủy

Đây là vết thương gây tổn thương màng tủy, tủy và ống sống. Vết thương này được chia thành 3 loại, bao gồm:

  • Vết thương xuyên: Vết thương xuyên qua tủy và xuyên qua ống sống. Trong tổn thương này, tủy sống có thể bị đứt rách. Một số trường hợp có tổn thương tủy không nặng do mảnh kim khí nhỏ.
  • Vết thương chột: Đây là những vết thương mà đầu đạn xuyên vào và nằm trong ống sống. Điều này có thể gây ra tổn thương tủy sống hoàn toàn hoặc không hoàn toàn.
  • Vết thương tiếp tuyến: Vết thương có đường đi tiếp tuyến với tủy và ống sống. Lúc này màng tủy và thành ống sống bị phá hủy, thường có những mảng xương trong ống sống. Vết thương tiếp tuyến có thể gây ra tổn thương tủy sống hoàn toàn hoặc không hoàn toàn.

Vết thương không thấu tủy

Vết thương không thấu tủy là những vết thương không phá hủy thành ống sống, gây tổn thương thân đốt sống, gai sau hoặc gai ngang nhưng không tổn thương màng tủy và tủy. Trong một số trường hợp, tủy có thể bị tổn thương không hoàn toàn hoặc hoàn toàn.

Vết thương cạnh ống sống

Vết thương cạnh ống sống là những vết thương đi bên ngoài cột sống, cột sống không bị tổn thương nhưng tủy sống có thể bị tổn thương hoàn toàn. Nhiều trường hợp có một phần tổn thương hoặc tổn thương tủy nhẹ, phục hồi chức phận tủy theo thời gian.

Những kiểu liệt do tổn thương tủy sống

Tủy sống đảm nhận những chức năng liên quan đến vận động và cảm giác. Chính vì thế mà tổn thương tủy sống thường dẫn đến liệt. Có bốn dạng tê liệt, bao gồm:

  • Liệt một chi: Liệt một chi thường ngắn hạn, chức năng của chi liệt có thể phục hồi.
  • Liệt hai chân (liệt chi dưới): Liệt tứ chi xảy ra từ eo trở xuống, ở phần chi dưới. Bao gồm hông, chân cùng những chức năng như bài tiết và sinh lý.
  • Liệt tứ chi: Liệt tứ chi bắt đầu từ cổ trở xuống, gồm chân tay và thân mình.
  • Liệt nửa người: Có thể là nửa bên mặt, một chân và một cánh tay của cùng một bên. Tổn thương tủy sống cũng có thể gây liệt chân và tay cùng bên hoặc liệt thân mình, cánh tay, bàn tay và những cơ quan vùng chậu.
Những kiểu liệt do tổn thương tủy sống
Những kiểu liệt do tổn thương tủy sống

Biến chứng của tổn thương tủy sống

Tổn thương tủy sống có mức độ nghiêm trọng cao, cần được cấp cứu đúng cách và kịp thời kết hợp điều trị chuyên sâu tích cực. Tổn thương quá nặng hoặc trì hoãn điều trị có thể gây ra những biến chứng sau:

  • Phù phổi
  • Suy hô hấp
  • Sốc thần kinh
  • Liệt bên dưới vị trí chấn thương
  • Teo cơ
  • Vết loét do tỳ đè, nhất là những vùng xương
  • Đau khớp, đau cơ, đau dây thần kinh
  • Co cứng bao gồm căng cơ không kiểm soát bên dưới vị trí chấn thương
  • Vấn đề ở thận như nhiễm trùng thận và sỏi thận
  • Mất kiểm soát bàng quang và ruột dẫn đến tiểu tiện không tự chủ
  • Nhiễm trùng đường tiết niệu
  • Mất kiểm soát nhu động ruột
  • Mất hoặc giảm cảm giác trên da dưới vùng chấn thương
  • Rối loạn tuần hoàn, hình thành cục máu đông, tăng huyết áp, rối loạn phản xạ tự động, hạ huyết áp thế đứng
  • Ho và khó thở
  • Gãy xươngloãng xương dưới mức chấn thương
  • Cơ mềm nhũn, thiếu trương lực cơ
  • Tăng nguy cơ béo phì, bệnh tim mạch và tiểu đường
  • Rối loạn chức năng tình dục
  • Tăng nguy cơ trầm cảm.

Cách xử lý tổn thương tủy sống

Những dấu hiệu và triệu chứng khẩn cấp:

  • Đau lưng hoặc đau cổ quá mức
  • Cảm thấy áp lực lớn ở lưng, đầu và cổ
  • Yếu hoặc tê liệt
  • Ngứa ra, tê hoặc mất cảm giác ở tay, chân
  • Không thể cử động các ngón tay
  • Không thể giữ thăng bằng hoặc đi bộ
  • Biến dạng cột sống
  • Suy giảm hô hấp
  • Mất kiểm soát ruột và bàng quang

Tổn thương tủy sống cấp tính cần được xử lý đúng cách. Cụ thể:

  • Không di chuyển bệnh nhân để tránh tổn thương thêm.
  • Gọi cấp cứu.
  • Cuộn tròn khăn đặt ở hai bên đầu để giữ cho đầu và cổ không bị xê dịch. Giữ nguyên điều này cho đến khi nhân viên y tế đến.
  • Sơ cứu cơ bản như giữ yên bệnh nhân, cầm máu, tạo cảm giác thoải mái và giữ cho bệnh nhân tỉnh táo.
Giữ cho đầu và cổ của bệnh nhân không bị xê dịch để ngăn tổn thương thêm
Giữ cho đầu và cổ của bệnh nhân không bị xê dịch khi di chuyển để ngăn tổn thương thêm

Chẩn đoán tổn thương tủy sống như thế nào?

Bác sĩ có thể xác định tổn thương tủy sống thông qua các biểu hiện lâm sàng, bối cảnh chấn thương. Đặc biệt là khi người bệnh bị mất cảm giác hoặc tê liệt hoặc cả hai ở bất kỳ mức độ nào.

Để xác định chính xác vị trí tổn thương và mức độ nghiêm trọng, những xét nghiệm sau sẽ được chỉ định:

  • Chụp X-quang: Phát hiện sự sai lệch hoặc mất ổn định của cột sống.
  • Chụp cắt lớp vi tính (CT): Tìm kiếm những tổn thương sâu và không được thể hiện qua X-quang tiêu chuẩn.
  • Chụp cộng hưởng tử (MRI): Kiểm tra cấu trúc của cơ thể cũng như cột sống. MRI cho phép bác sĩ đánh giá mức độ tổn thương tủy sống, tình trạng mất vững của cột sống, tổn thương đi kèm (liên quan đến cơ, mạch máu hoặc dây chằng). Đồng thời xác định vị tổn thương và phân loại tổn thương tủy sống.

Điều trị tổn thương tủy sống

Điều trị tổn thương tủy sống cần kéo dài từ giai đoạn trước khi nhập viện đến giai đoạn hồi phục.

1. Điều trị trước khi nhập viện

Nếu có nghi ngờ chấn thương cột sống, cần thực hiện hỗ trợ cột sống cơ bản và ngăn ngừa tổn thương thêm. Bao gồm:

  • Duy trì hô hấp, đường thở và tuần hoàn
  • Chống sốc
  • Hạn chế chuyển động của cột sống
  • Trong trường hợp khẩn cấp (suy giảm ý thức hoặc bất tỉnh do chấn thương), cần xử lý như thể bệnh nhân bị mất tính ổn định ở cột sống, hạn chế tăng phạm vi và chuyển động để ngăn tổn thương tủy sống.
  • Đặt một vòng cổ cứng vào cổ, dùng những khối cứng đặt ở hai bên để giữ đầu và buộc người vào ván sau. Không dùng vòng cổ cho người bị chấn thương xuyên thấu vì có thể tăng tỉ lệ tử vong.
  • Nếu bệnh nhân trong không gian hạn chế (như xe ô tô), hãy sử dụng thiết bị định vị để cột sống không di chuyển quá mức khi di chuyển người.
  • Làm sạch cột sống cổ nếu không có biểu hiện suy giảm thần kinh, không đau giữa cổ, bệnh nhân hoàn toàn tỉnh táo.
  • Đắp khăn ấm để tránh tổn thương tủy sống làm suy giảm khả năng giữ ấm của cơ thể.

2. Điều trị tại bệnh viện

Những phương pháp được áp dụng dựa trên mức độ nghiêm trọng của tổn thương tủy sống.

+ Điều trị tại phòng cấp cứu

Những trường hợp khẩn cấp, đe dọa đến tính mạng cần điều trị ở phòng cấp cứu với những phương pháp sau:

  • Chống sốc
  • Duy trì khả năng thở (dùng máy thở cơ học hoặc ống nội khí quản)
  • Cố định cổ ngăn ngừa tổn thương thêm
  • Điều trị rối loạn huyết áp, mất kiểm soát ruột và bàng quang cùng những biến chứng khác
  • Một số trường hợp cần phẫu thuật thần kinh và điều trị lặp đi lặp lại
  • Sử dụng thuốc vận mạch hoặc dung dịch truyền tĩnh mạch để duy trì huyết áp.

+ Dùng thuốc

Trong điều trị tổn thương tủy sống, những loại thuốc có thể được sử dụng:

Methylprednisolone (Solu-Medrol)
Methylprednisolone (Solu-Medrol) thường được dùng trong giai đoạn điều trị khẩn cấp
  • Methylprednisolone (Solu-Medrol): Đây là thuốc kháng viêm nhóm corticosteroid. Thuốc có tác dụng giảm đau, chống viêm mạnh, ngăn suy giảm máu não. Methylprednisolone được dùng khi cần điều trị khẩn cấp cho người có tổn thương tủy sống nặng hoặc có triệu chứng nghiêm trọng. Sau chấn thương, thuốc được dùng để ngăn ngừa tổn thương tái phát. Methylprednisolone được dùng dưới dạng truyền tĩnh mạch ở cánh tay.
  • Thuốc giãn cơ: Thuốc giãn cơ được dùng cho những bệnh nhân bị co cứng cơ không kiểm soát. Việc sử dụng thuốc có thể giúp thư giãn các cơ và giảm đau.
  • Thuốc giảm đau: Một số thuốc giảm đau nhóm opioid được dùng để kiểm soát những cơn đau do tổn thương tủy sống và đau thần kinh.
  • Thuốc vận mạch: Những loại thuốc vận mạch như phenylephrine và dopamine được chỉ định cho bệnh nhân bị hạ huyết áp tâm thu.

+ Bất động

Sau tổn thương tủy sống, cột sống cần được giữ bất động, đặc biệt là vùng cổ. Tùy thuộc vào tình trạng, người bệnh có thể được sử dụng vòng cổ mềm/ cứng hoặc nẹp để căn chỉnh và giữ cho cột sống ở vị trí an toàn. Điều này giúp hạn chế tổn thương thêm, ngăn biến chứng và đau tái phát.

+ Hạ nhiệt độ cơ thể

Hạ thân nhiệt trong 24 – 48 giờ đầu cho những bệnh nhân có nguy cơ viêm nhiễm. Phương pháp này giúp phòng ngừa sốc, ngăn viêm nhiễm và tái tạo thần kinh.

+ Phẫu thuật

Phẫu thuật cần thiết đối với bệnh nhân bị tổn thương tủy sống. Phương pháp này thường được áp dụng khẩn cấp (trong vòng 12 giờ sau chấn thương). Đặc biệt là khi:

  • Gãy đốt sống, mất ổn định cột sống
  • Dây thần kinh bị nén hoặc chịu áp lực quá mức
  • Tổn thương tủy tăng nguy cơ liệt hoặc sốc thần kinh dẫn đến tử vong
  • Tổn thương xuyên thấu do có mảnh đạn nằm bên trong
  • U cột sống.

Tùy thuộc vào tình trạng, bệnh nhân có thể được phẫu thuật chỉnh sửa đốt sống và ổn định cột sống, loại bỏ khối u, mảnh xương hoặc dị vật bên trong. Phẫu thuật giúp ổn định cột sống, hạn chế tổn thương thêm và ngăn biến chứng bại liệt ở bệnh nhân.

Phục hồi chức năng

Sau khi ổn định vùng tổn thương, bệnh nhân tiếp tục sử dụng thuốc để ngăn ngừa biến chứng nhiễm trùng. Ngoài ra bệnh nhân được hướng dẫn phục hồi chức năng tích cực để tăng chức năng vận động và cảm giác. Đồng thời hạn chế những rối loạn và biến chứng do phẫu thuật và bất động lâu ngày. Chẳng hạn như loét tỳ đè, co rút cơ, hình thanh máu đông…

Phục hồi chức năng
Phục hồi chức năng tích cực giúp lấy lại chức năng vận động và cảm giác, phục hồi sức mạnh

Trong giai đoạn đầu, bệnh nhân được hướng dẫn co cơ tại chỗ, di chuyển trên giường, tập ngồi, bước xuống giường và đi lại bằng thiết bị hỗ trợ. Những bài tập này giúp hạn chế biến chứng, cải thiện vận động và cảm giác.

Trong giai đoạn tiếp theo, bệnh nhân được luyện tập với những bài tập tăng cường sức cơ, phát triển kỹ năng vận động và cải thiện tính linh hoạt. Điều này giúp bệnh nhân phục hồi sức mạnh và trở lại với các hoạt động.

Đối với trường hợp tê liệt, bệnh nhân được luyện tập để thích nghi với những thiết bị hỗ trợ, công việc và hoạt động sinh hoạt. Điều này giúp tăng chất lượng đời sống và sự độc lập của bệnh nhân.

Tiên lượng

Nguy cơ bại liệt thường cao ở những bệnh nhân có tổn thương tủy sống cấp tính (do chấn thương nặng). Tuy nhiên những trường hợp điều trị sớm và tích cực, tổn thương tủy sống không hoàn toàn có thể phục hồi hoàn toàn.

Tốc độ và khả năng hồi phục phụ thuộc vào mức độ tổn thương, vị trí tổn thương và quá trình điều trị. Sau 6 tháng, người bệnh có thể sinh hoạt trở lại. Tuy nhiên một số người có thể mất 1 – 2 năm để trở lại hoạt động bình thường.

Phòng ngừa tổn thương tủy sống

Tổn thương tủy sống có thể được ngăn ngừa bằng cách:

Lái xe an toàn
Lái xe an toàn để phòng ngừa tai nạn dẫn đến tổn thương tủy sống
  • Điều trị sớm những bệnh lý ở cột sống.
  • Sử dụng thiết bị bảo vệ khi chơi thể thao.
  • Lái xe an toàn. Tránh lái xe khi sử dụng rượu hoặc mất tập trung.
  • Thắt dây an toàn khi xe di chuyển.
  • Tránh đột ngột thay đổi tư thế hoặc thực hiện những tư thế gây bất lợi cho cột sống.
  • Không lặng ở vùng nước quá nông, thận trọng khi chơi thể thao để tránh chấn thương.
  • Ngăn ngừa té ngã bằng cách sử dụng tay vịn chắc chắn dọc theo cầu thang, dùng thảm chống trượt, đi lại cẩn thận…

Tổn thương tủy sống làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng vận động và cảm giác, tăng nguy cơ bại liệt hoặc mất chức năng ở một số cơ quan (bàng quang, ruột…). Vì thế việc phòng ngừa là điều cần thiết. Nếu có tổn thương, hãy xử lý đúng cách và liên hệ với bác sĩ để được cấp cứu.

Tham khảo thêm:

NÊN ĐỌC

Bài thuốc Quốc dược Phục cốt khang kế thừa và phát triển từ tinh hoa hàng chục bài thuốc cổ truyền, Y pháp Hải Thượng Lãn Ông đã giúp hàng triệu người bệnh phục hồi xương khớp toàn diện. Thành phần hơn 50 bí dược LẦN ĐẦU TIÊN ứng dụng tại Việt Nam.

Trở thành người đầu tiên bình luận cho bài viết này!

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chia sẻ
Bỏ qua