Đề tài nghiên cứu: Điều trị hạ axit uric máu bằng bài thuốc y học cổ truyền

Thông tin về TOP những bác sĩ giỏi chuyên môn trong điều trị xương khớp là vấn đề được nhiều bệnh nhân quan tâm. Toàn bộ được bật mí trong bài viết.

1/ Đặt vấn đề

Tăng acid uric máu là yếu tố nguy cơ quan trọng gây ra nhiều bệnh lý nguy hiểm như suy tim, bệnh thận mãn tính, bệnh gout, viêm khớp, đột quỵ,… Trong đó, đặc biệt phải kể đến là bệnh gout. Bệnh là một dạng rối loạn chuyển hóa, xảy ra do tăng acid uric trong máu là bệnh thường gặp nhất.

Khi lượng axit uric trong máu vượt quá ngưỡng cho phép thì sẽ lắng đọng lại ở màng hoạt dịch, nội tạng và các cơ quan dưới dạng tinh thể axit uric hay urat monosodic và gây bệnh gout.

Do đó, việc hạ và kiểm soát nồng độ axit uric máu là một trong những mục tiêu trong điều trị gout. Chính vì lý do trên, đề tài “Điều trị hạ axit uric máu bằng bài thuốc Y học cổ truyền” được thực hiện với mục tiêu:

  • Tìm hiểu về phương pháp điều trị hạ axit uric máu bằng bài thuốc YHCT
  • Đánh giá hiệu quả điều trị hạ axit uric máu bằng bài thuốc YHCT
  • Khảo sát về tác dụng phụ không mong muốn của bài thuốc Y học cổ truyền.

2/ Tổng quan đề tài

2.1 Định nghĩa

Axit uric là chất thải được hình thành sau quá trình chuyển hóa purin của cơ thể. Trong cơ thể con người, axit uric được sản sinh từ 2 nguồn:

  • Nội sinh: Do thoái giáng acid nucleic từ các tế bào bị tiêu hủy, quá trình chuyển hóa purin, chiếm khoảng 70% lượng acid uric trong toàn bộ cơ thể
  • Ngoại sinh: Do thoái giáng acid nucleic từ các thực phẩm được đưa vào cơ thể, chiếm khoảng 30% tổng số lượng acid uric trong toàn bộ cơ thể.

Axit uric là một acid yếu, thường bị ion hóa về dạng muối urat hòa tan trong huyết tương. Lượng axit uric dư thừa được đào thải ra khỏi cơ thể qua nước tiểu (khoảng 80%) và qua tiêu hóa, mồ hôi (khoảng 20%). Quá trình chuyển hóa purin sẽ tạo ra các axit uric mới, đồng thời luôn có một lượng axit uric được đào thải qua thận.

Với hơn 40 năm kinh nghiệm trong ngành y học cổ truyền, Thầy thuốc ưu tú - BSCKII Lê Phương đã chữa khỏi cho hàng nghìn bệnh nhân xương khớp. Không chỉ giỏi chuyên môn, bác sĩ còn được bệnh nhân yêu mến, kính trọng hết mực.

Khi quá trình đào thải axit uric bị rối loạn do tăng tổng hợp acid uric hoặc giảm bài tiết acid uric sẽ làm tăng nồng độ acid uric trong máu. Thông thường, nồng độ acid uric máu trong ngưỡng cho phép vào khoảng 420 micromol/lít (dưới 7,0 mg/dl) ở nam và 360 micromol/lít (dưới 6 mg/dl) ở nữ. Vì vậy, nếu như nồng độ axit uric trong máu vượt quá ngưỡng cho phép trên thì được gọi là hội chứng tăng axit uric máu.

Tăng acid uric máu là một trong những rối loạn chuyển hóa, được xem là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây ra các bệnh xương khớp gout, suy tim mãn tính, suy thận mãn tính, sỏi thận,…

Gout là bệnh lý rối loạn chuyển hóa liên quan trực tiếp đến tăng nồng độ acid uric trong máu. Bệnh đặc trưng bởi các đợt viêm khớp cấp hoặc mãn tính, xảy ra do sự lắng đọng tinh thể mononatri urat trong các khớp, mô liên kết bộ phận cơ thể.

Tăng axit uric máu là nguyên nhân trực tiếp gây bệnh gout
Tăng axit uric máu là nguyên nhân trực tiếp gây bệnh gout

2.2 Vai trò của axit uric trong bệnh gout theo YHHĐ

Khi lượng axit uric trong máu tăng quá cao (>7mg%), tổng lượng axit trong cơ thể tăng lên vượt quá khả năng đào thải axit uric của cơ thể thì những acid uric này sẽ lắng đọng thành các tinh thể urat ở lớp màng hoạt dịch.

Sau khi tinh thể urat lắng ở lớp màng hoạt dịch sẽ gây nên một loạt phản ứng:

  • Hoạt tác yếu tố Hageman tại chỗ, từ đó kích thích các tiền chất gây phản ứng viêm ở màng hoạt dịch.
  • Các bạch cầu sẽ tập trung tới và tiến hành thực bào các vi tinh thể urat, đồng thời cũng giải phóng các men tiêu thể của bạch cầu – cũng là tác nhân gây phản ứng viêm sưng.
  • Phản ứng viêm ở màng hoạt dịch sẽ kích thích tăng chuyển hóa acid lactic tại chỗ, giảm độ pH. Bởi thực tế, môi trường càng toan thì tinh thể urat lắng đọng càng nhiều, phản ứng viêm trở thành một vòng khép kín liên tục, kéo dài.
Tinh thể urat lắng đọng tại lớp màng hoạt dịch khớp
Tinh thể urat lắng đọng tại lớp màng hoạt dịch khớp

Vì vậy, để kiểm soát bệnh gout, cần phải hạ và duy trì nồng độ acid uric huyết thanh dưới ngưỡng bão hòa sinh lý 6.8 mg/dl. Từ đó, làm giảm đi sự hình thành và lắng đọng tinh thể muối urat, tức là cắt giảm nguy cơ cơn gout bùng phát), thúc đẩy quá trình triệt tiêu hạt tophi, sự lắng đọng tinh thể urat ở các mô.

2.4 Quan điểm YHHĐ trong kiểm soát acid uric máu

Trong khuyến cáo điều trị mới đều thống nhất đưa ra việc kiểm soát acid uric máu bao gồm chế độ ăn uống, vận động và sử dụng thuốc.

Rối loạn chuyển hóa axit uric máu là nguyên nhân hình thành bệnh gout. Vì vậy, mục tiêu của việc giảm và kiểm soát acid uric máu là đưa nồng độ acid uric trong máu về ngưỡng cho phép (< 6mg%), duy trì kết quả này lâu dài, ổn định.

Việc hạ và duy trì acid uric về mức mục tiêu có tác dụng kiểm soát các bệnh viêm khớp, gout hiệu quả, phòng ngừa biến chứng nặng tại khớp, giảm tỷ lệ tàn phế, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

2.5 Quan điểm của YHCT về điều trị hạ axit uric máu

Bệnh gout là chứng bệnh xảy ra do sự rối loạn chuyển hóa acid uric, cụ thể là việc tăng nồng độ axit uric vượt mức tối đa trong máu. Y học cổ truyền gọi bệnh gout là chứng bệnh thống phong, thuộc về phạm trù chứng Tý.

Nguyên nhân gây bệnh là do các tà khí phong, hàn, thấp xâm nhập và tích tụ lâu ngày trong cơ thể, gây tắc nghẽn kinh lạc, khí huyết ứ trệ tại khớp. Từ đó, gây đau khớp, co duỗi khó khăn

Trong khi chính khí cơ thể suy yếu, ngũ tạng rối loạn, can thận bất túc. Can hư không chủ được cân mạch, thận hư không tàng được cốt tủy. Tình trạng hư nhiệt kết hợp với khí huyết ứ trệ do tà khí xâm nhập. Vì vậy mà đã dẫn đến xương khớp sưng nóng, đau nhức, đau dữ dội về đêm, đau tăng khi trời lạnh.

Ban đầu, khi bệnh mới khởi phát còn ở cơ biểu kinh lạc, bệnh lâu ngày thì tà khí tích lũy tại gân xương, gây tổn thương ngũ tạng, rối loạn lưu thông khí huyết tân dịch, làm cho tân dịch ứ trệ thành đàm, khí huyết hóa ứ. Đàm ứ kết nhau mà thành các u cục tô phi xung quanh khớp, dưới da.

2.6 Triệu chứng lâm sàng bệnh gout do tăng axit uric máu

Theo YHHĐ, bệnh gout được phân loại thành 2 giai đoạn chính:

Thể cấp tính: 

  • Quá trình viêm đau khớp diễn biến trong một thời gian ngắn rồi kết thúc, thỉnh thoảng lại tái phát
  • Cơn đau nhức dữ dội, đột ngột ở khớp chi: khớp bàn chân, ngón chân, cổ tay, bàn tay, đầu gối,…
  • Khớp sưng tấy, có màu đỏ sẫm
  • Hạn chế vận động

Thể mãn tính:

  • Quá trình lắng đọng urat nhiều, triệu chứng viêm đau khớp kéo dài liên tục
  • Do bệnh ở thể cấp tính chuyển thành
  • Viêm đau ở nhiều khớp (chủ yếu ở các khớp nhỏ, vừa, có tính chất đối xứng)
  • Tái phát nhiều lần, thời gian ổn định giữa các đợt rút ngắn đi
  • Khớp sưng, nóng, đỏ
  • Biến dạng khớp
  • Co duỗi, cử động khớp khó khăn
  • Xuất hiện các nốt u cục quanh khớp, dưới da.
Khớp viêm, sưng, nóng, đỏ là biểu hiện đặc trưng của bệnh gout
Khớp viêm, sưng, nóng, đỏ là biểu hiện đặc trưng của bệnh gout

Theo YHCT, bệnh gout được phân loại thành 3 thể lâm sàng:

Thể phong thấp nhiệt:

  • Khớp ngón cái hoặc các ngón khác bị sưng đau, nóng, đỏ đột ngột
  • Kèm theo hiện tượng sốt, đau đầu, sợ lạnh, sợ gió, khát nước, miệng khô, nước tiểu màu vàng đậm, lưỡi màu vàng bẩn, mạch sáp.

Thể hàn thấp tý:

  • Nhiều khớp sưng to, cơn đau kéo dài, cử động co duỗi khó, biến dạng khớp, tê liệt khớp
  • Da tím sạm đen, chườm nóng thấy dễ chịu, mạch trầm huyền, rêu lưỡi màu trắng.

2.7 Mục tiêu điều trị theo YHCT

Để điều trị bệnh gout, Y học cổ truyền chủ yếu dùng các bài thuốc chủ về phép thông kinh lạc, thanh nhiệt, khu phong, trừ thấp, hành khí hoạt huyết, hóa ứ.

Bệnh lâu ngày làm khí huyết suy yếu, âm dương bất hòa, các bài thuốc YHCT còn tập trung vào bồi bổ can thận khí huyết để nâng cao chính khí, cường gân kiện cốt giúp xương khớp dẻo dai, chắc khỏe, ngăn ngừa nguy cơ tái phát.

2.8 Điều trị hạ axit uric máu bằng thảo dược tự nhiên

Căn cứ trên quan điểm của YHCT về tình trạng axit uric máu và bệnh xương khớp, để kiểm soát nồng độ axit uric trong máu, YHCT sử dụng một số vị thuốc có tính khu phong trừ thấp mạnh, bổ thận nhằm tăng cường thải trừ acid uric và các chất gây ứ đọng trong xương khớp, thông kinh hoạt lạc, giảm đau, tiêu viêm.

  • Thổ phục linh: Theo phân tích dược lý hiện đại cho thấy, chất catalase trong thổ phục linh có thể giảm stress oxy hóa do tình trạng tăng acid uric máu. Hoạt chất astilbin có trong thổ phục linh đóng vai trò ngăn chặn hoạt động của acid uric trong máu, tăng sản hoạt dịch, giảm viêm, ngăn chặn xâm nhập tế bào vào màng hoạt dịch. Theo Y học cổ truyền, thổ phục linh có vị ngọt, nhạt, tính bình, có tác dụng khu phong, trừ thấp, thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, đặc trị các chứng phù nề, đau nhức các chi, tăng cường chức năng thận, lợi tiểu và thúc đẩy quá trình đào thải lượng axit uric dư thừa ra khỏi cơ thể.
  • Đỗ trọng: Vị ngọt hơi cay, tính ôn, không mùi, dưỡng huyết, bổ can thận, cường gân cốt, kháng viêm, giảm đau, điều trị các chứng chân gối yếu mềm. Y học hiện đại đã ghi nhận đỗ trọng có công dụng cải thiện mật độ, độ chắc khỏe của xương, giảm bài tiết canxi và photpho, thúc đẩy quá trình tái cấu trúc xương.
  • Ba kích: Tính ấm, vị cay ngọt, hơi chát, quy vào kinh can – thận, tăng cường chức năng thận, trừ phong thấp, mạnh gân cốt.
  • Dâm dương hoắc: Vị cay, tính bình, đi vào kinh can thận, tăng cường chức năng thận, tráng dương, lợi tiểu, mạnh gân cốt, giúp tăng cường chức năng đào thải acid uric, giảm nồng độ acid uric
  • Hy thiêm: Vị đắng, tính mát, có tác dụng khử phong thấp, lợi gân cốt, hạ acid uric máu. Trong hy thiêm có chứa các chất chống viêm và khuẩn rất tốt nên thường được sử dụng trong chữa bệnh gout.
Thổ phục linh là thảo dược có khả năng kiểm soát nồng độ acid uric máu hiệu quả
Thổ phục linh là thảo dược có khả năng kiểm soát nồng độ acid uric máu hiệu quả

2.9 Bài thuốc YHCT điều trị hạ axit uric máu

Dựa trên các dấu hiệu, triệu chứng bệnh và nguyên do khởi phát bệnh, Đông y có các bài thuốc điều trị khác nhau:

  • Bài thuốc Bạch hổ gia quế chi thang gia giảm

Phép chủ trị: Điều trị các trường hợp bệnh gout cấp tính do tăng axit uric máu, có công dụng ôn thông kinh lạc, khu phong trừ thấp, thanh nhiệt, giải độc.

Thành phần: Thạch cao 40-60g, Tri mẫu 12g, Quế chi 4-6g, Bạch thược 12g, Xích thược 12g, Ngân diệp 20-30g, Phòng kỷ 10g, Mộc thông 10g, Hải đồng bì 10g, Cam thảo 5-10g.

Trường hợp thấp nhiệt nặng gây sưng tấy, đau nhiều bổ sung thêm Dây kim ngân, Thổ phục linh, Ý dĩ. Hoặc có thể bổ sung thêm thuốc hoạt huyết như Toàn đương quy, Đan sâm, Trạch lan, Đào nhân, Hồng hoa để hóa ứ, chỉ thống.

  • Bài thuốc Ô đầu tế tân thang

Phép chủ trị: Điều trị các trường hợp bệnh gout mãn tính, có công dụng khu hàn, ôn thông kinh lạc, trừ thấp, chỉ thống

Thành phần: Ô đầu 5g, Tế tân 5g, Đương quy 12g, Xích thược 12g, Uy linh tiên 10g, Thổ phục linh 16g, Tỳ giải 12g, Ý dĩ 20g, Mộc thông 10g, Quế chi 4-6g

Trường hợp sưng đau nhiều khớp, cứng khớp bổ sung thêm Cương tàm, Xuyên sơn giáp, Tạo giác thích, Hy thiêm thảo, Hải đồng bì

Trường hợp đau nhiều do huyết ứ bổ sung thêm Ngô công, Toàn yết, Diên hồ sách

Trường hợp thận dương hư bổ sung thêm Bổ cốt chỉ, Nhục thung dung, Cốt toái bổ

Trường hợp khí huyết hư bổ sung thêm Hoàng kỳ, Đương quy, Nhân sâm, Bạch truật.

  • Bài thuốc Độc hoạt tang ký sinh thang gia giảm

Phép chủ trị: Dùng trong điều trị bệnh gout thể hàn thấp tý, có công dụng chỉ thống, trừ hàn, hóa thấp.

Thành phần: Độc hoạt 12g, Tang ký sinh 16-40g, Tần giao 12g, Phòng phong 12g, Tế tân 4-8g, Đương quy 12g, Thược dược 12g, Xuyên khung 8-12g, Địa hoàng 16-24g, Đỗ trọng 12g, Ngưu tất 12g, Nhân sâm 12g, Phục linh 12g, Chích thảo 4g, Quế tâm 4g.

Bài thuốc YHCT điều trị viêm đau khớp
Bài thuốc YHCT giúp hạ và kiểm soát nồng đọ acid uric máu
  • Bài thuốc Niêm thống thang gia giảm

Phép chủ trị: Dùng trong điều trị bệnh gout thể thấp nhiệt uẩn kết, có công dụng tuyên thanh, lợi thấp nhiệt, thông lạc, chỉ thống.

Thành phần: Bạch truật 4g, Cát căn 4g, Chích thảo 2g, Đảng sâm 12g, Đương quy 8g, Hoàng cầm 2g, Khổ sâm 4g, Khương hoạt 2g, Nhân trần 4g, Phòng phong 4g, Thương truật 2g, Trạch tả 4g, Tri mẫu 4g, Trư linh 4g.

  • Bài thuốc Đào hồng vật tứ thang

Phép chủ trị: Dùng trong điều trị trường hợp bệnh gout thuộc chứng đờm ngưng trở lạc, có công dụng hòa doanh, khứ ứ, hóa đờm, thông kinh lạc.

Thành phần: Đương quy 10g, Xích thược 10g, Đào nhân 10g, Mộc qua 10g, Hồng hoa 6g, Uy linh tiên 6g, Xuyên khung 6g, Dã xích đậu 12g, Triết bối mẫu 12g, Ty qua lạc 4-5g, Tạo giác thích 4g, Giáp châu 4g.

  • Bài thuốc Kê huyết phụ tử niêm thống thang

Phép chủ trị: Dùng trong điều trị bệnh gout thể phong thấp hàn, huyết ứ, có công dụng ôn thông kinh lạc, trừ thấp, khử phong.

Thành phần: Kê huyết đằng 50g, Nhẫn đông đằng 50g, Thương truật và Kinh giới tuệ bỏ vào 1 lượng phù hợp.

3/ Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

100 bệnh nhân tự nguyện tham gia được chẩn đoán bị viêm khớp gout do rối loạn chuyển hóa tăng axit uric máu.

3.2 Phương pháp nghiên cứu

  • Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp mô tả cắt ngang, thử nghiệm lâm sàng theo chiều dọc có so sánh trước, sau điều trị.
  • Tiến hành nghiên cứu dựa trên các bài thuốc cổ phương về điều trị
  • Tiến hành theo dõi lâm sàng, cận lâm sàng (kết quả xét nghiệm sinh hóa định lượng axit uric trong máu) trước và sau khi điều trị bằng bài thuốc YHCT. Kết quả xét nghiệm được lấy hai chữ số sau dấu thập phân.

4/ Phân tích kết quả nghiên cứu và bàn luận

Sản phẩm của đề tài:

Qua quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu trên đã xác định được bảng thành phần của bài thuốc điều trị hạ axit uric máu ở bệnh nhân gout:

Thành phần chính của bài thuốc gồm: Đương quy, Phòng phong, Xuyên khung, Thương truật, Phòng kỷ, Ngưu tất, Thiên niên kiện, Quế chi, Hoàng bá, Dây đau xương, Hy thiêm, Độc hoạt, Đỗ trọng, Kỷ tử, Bạch truật, Ý dĩ, Thổ phục linh.

Thuốc được bào chế ở dạng thuốc thang sắc uống. Sử dụng trong 1 tháng, ngày uống 3 lần.

Kết quả theo dõi triệu chứng lâm sàng trên 100 bệnh nhân:

  • Nhóm bệnh nhân có tỉ lệ tăng axit uric cao nằm trong độ tuổi từ 40 – 70 tuổi. Nhóm bệnh nhân nằm trong độ tuổi 30 – 40 tuổi chiếm tỉ lệ ít hơn. Về giới tính, bệnh nhân nam chiếm tỷ lệ vượt trội hơn so với bệnh nhân nữ trong nhóm nghiên cứu.
  • Phần lớn bệnh nhân gout có mắc 1-2 bệnh đi kèm, chiếm 56,84% bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu. Trong đó, tăng huyết áp là bệnh đi kèm chiếm tỷ lệ người mắc cao nhất với 22,4%.
  • Đặc điểm lâm sàng khớp (khớp cổ chân, cổ tay, đầu gối, khớp bàn ngón chân): Bệnh nhân sau điều trị không xuất hiện đợt sưng đau khớp. Khớp không có dấu hiệu đỏ, sưng, ấn vào đau. bệnh nhân không khởi phát đột ngột các đợt sưng đau khớp.
  • Đánh giá mức độ cải thiện triệu chứng đau: Sau 30 ngày điều trị 84 bệnh nhân đau ở mức độ nhẹ, 16 bệnh nhân không còn đau.
  • Mức độ giảm sưng khớp: Có 8 bệnh nhân giảm sưng khớp sau 24 giờ, có 52 bệnh nhân giảm sưng khớp rõ rệt sau 1 tuần điều trị. Sau 30 ngày điều trị, 90 bệnh nhân không còn sưng khớp.
  • Đánh giá mức độ đi lại hoặc vận động: Bệnh nhân sau điều trị không xuất hiện triệu chứng cứng khớp, khôi phục khả năng vận động tốt.

Kết quả kiểm tra cận lâm sàng:

  • Xét nghiệm máu đánh giá mức hạ nồng độ acid uric: 19 bệnh nhân có nồng độ axit uric máu giảm trên 30%, 51 bệnh nhân có nồng độ axit uric máu giảm 15 – 30%, 24 bệnh nhân có nồng độ axit uric giảm dưới 15%, 6 bệnh nhân có nồng độ axit uric không thay đổi hoặc thay đổi ở mức rất thấp. Nồng độ axit uric máu trung bình của bệnh nhân 349,51 ± 89,59 µmol/l.
  • Xét nghiệm dịch khớp: Không phát hiện tinh thể urat, hạt tophy nằm trong bạch cầu.
  • Siêu âm khớp: scanner không bắt màu tinh thể urat đặc biệt
  • Chụp X-quang khớp: không có hình ảnh khuyết xương trên phim chụp.

5/ Kết luận

Hiệu quả kiểm soát nồng độ axit uric máu của bài thuốc ở mức độ tốt và khá, duy trì dài hạn. Bài thuốc đã triệt tiêu gần như hoàn toàn các đợt bùng phát viêm khớp và gout.

Trở thành người đầu tiên bình luận cho bài viết này!

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chia sẻ
Bỏ qua