Cấy chỉ điều trị xương khớp

Cấy chỉ là phương pháp tác động vào huyệt, tương tự phương pháp châm cứu. Ngày nay, cấy chỉ thường được chỉ định kết hợp với các bài thuốc YHCT để điều trị dứt điểm các bệnh lý xương khớp.

1/ Định nghĩa phương pháp cấy chỉ

Cấy chỉ (hay còn gọi là chôn chỉ, vùi chỉ, xuyên chỉ hay thắt buộc chỉ) là phương pháp châm cứu đặc biệt, kết hợp giữa YHCT và YHHĐ. Phương pháp này được thực hiện bằng cách đưa một đoạn chỉ tự tiêu (catgut) vào huyệt châm cứu để duy trì sự kích thích lâu dài, nhằm mục đích giảm đau, tăng cường nuôi dưỡng, đáp ứng nhu cầu điều trị bệnh.

2/ Lịch sử hình thành và phát triển của cấy chỉ

Theo các tài liệu y học, phương pháp cấy chỉ có nguồn gốc từ Trung Quốc, lần đầu được ứng dụng tại Việt Nam vào những năm 1960. Một số cơ sở y tế trong quân đội đã áp dụng phương pháp này như Viện Quân y 91, Viện Quân y 103, Viện Quân y 108, Bệnh viện Y học dân tộc Hà Nội.

Năm 1975, cấy chỉ được nghiên cứu, ứng dụng thành công trong điều trị các bệnh về đường hô hấp như viêm xoang, hen suyễn,…

Năm 1982, tại Viện Châm cứu Trung ương, đứng đầu là cố GS. Nguyễn Tài Thu đã ứng dụng thành công cấy chỉ để điều trị cho bệnh nhân xương khớp, bại liệt đang điều trị nội trú tại bệnh viện.

Với hơn 40 năm kinh nghiệm trong ngành y học cổ truyền, Thầy thuốc ưu tú - BSCKII Lê Phương đã chữa khỏi cho hàng nghìn bệnh nhân xương khớp. Không chỉ giỏi chuyên môn, bác sĩ còn được bệnh nhân yêu mến, kính trọng hết mực.

Đến năm 1990, bác sĩ Lê Thúy Oanh đã ứng dụng rộng rãi phương pháp cấy chỉ tại các đơn vị y tế như Hội điều trị bằng các phương pháp tự nhiên Hungary, Viện Châm cứu và phục hồi chức năng Yamamoto Budapest, Viện Nuôi dưỡng và Phục hồi chức năng trẻ em Debrecen Hungary,…

Hiện nay, kỹ thuật cấy chỉ đã có nhiều cải tiến hơn trước, mang lại hiệu quả to lớn trong điều trị, phục hồi chức năng,…

3/ Cơ chế tác dụng của phương pháp cấy chỉ

Phương pháp cấy chỉ thực chất là quá trình đưa chỉ catgut vào các huyệt đạo nhất định trên cơ thể, tạo ra sự kích thích lâu dài nhằm đáp ứng mục tiêu điều trị bệnh.

Chỉ catgut thực chất là một protit tự tiêu trong vòng 15 – 20 ngày sau khi đưa vào cơ thể. Đây cũng là loại chỉ chuyên dùng trong phẫu thuật ngoại khoa. Sau khi đưa vào cơ thể, chỉ catgut đóng vai trò là một dị nguyên kích thích cơ thể sản sinh ra các kháng thể để bảo vệ cơ thể, tăng cường hệ miễn dịch.

Theo đó, phương pháp cấy chỉ thúc đẩy sự hình thành các phản ứng hóa sinh tại chỗ, tái tạo protein, hydrocacbon và tăng sinh dưỡng cho các mô của cơ thể.

cấy chỉ thúc đẩy sự hình thành các phản ứng hóa sinh tại chỗ trong cơ thể
Cấy chỉ thúc đẩy sự hình thành các phản ứng hóa sinh tại chỗ trong cơ thể

Cấy chỉ được coi là một phương pháp châm cứu mới, kết hợp giữa phương pháp châm cứu truyền thống và tiến bộ khoa học kỹ thuật. Chỉ catgut khi được cấy vào huyệt vị sẽ tạo ra một kích thích cơ học tương tự như phương pháp châm cứu. Vì vậy nên có cơ chế tác tác dụng của cấy chỉ có thể giải thích theo cơ chế tác dụng của châm cứu.

Hiện nay, cách luận giải về cơ chế tác dụng của phương pháp châm cứu nhận được nhiều công nhận nhất là luận giải cơ chế tác dụng châm cứu theo học thuyết kinh lạc của YHCT và học thuyết thần kinh – thể dịch của YHHĐ.

3.1 Cơ chế tác dụng của châm cứu theo học thuyết kinh lạc của YHCT

  • Châm cứu có thể lập lại cân bằng âm dương trong cơ thể

Theo Y học cổ truyền, mọi sự vật, hiện tượng luôn có hai mặt thống nhất và đối lập, hỗ trợ và kiềm chế lẫn nhau để tồn tại, đó là hai mặt âm và dương.

Khi cơ thể con người ở ngưỡng cân bằng âm dương thì các cơ quan trong cơ thể vận hành trơn tru, con người khỏe mạnh, tinh thần sung mãn.

Và ngược lại, khi trạng thái âm dương mất cân bằng, cơ thể sẽ sinh bệnh tật, ốm đau, tinh thần bất an. Nguyên nhân gây mất cân bằng âm dương là do thể trạng suy yếu, chính khí kém, tinh thần bất ổn khiến cho các tác nhân gây bệnh (tà khí) xâm nhập được vào cơ thể.

Vì vậy, nguyên tắc điều trị bệnh chung là thiết lập lại trạng thái cân bằng âm dương, nâng cao chính khí, loại bỏ tà khí ra khỏi cơ thể.

Cấy chỉ có khả năng điều trị bệnh thông qua việc cân bằng âm dương, điều hòa chức năng lục phủ ngũ tạng, tăng cường lưu thông khí huyết, đả thông kinh mạch.

  • Châm cứu giúp điều hòa hoạt động kinh lạc:

Hệ thống kinh lạc trên cơ thể con người gồm những đường kinh (thẳng) nối tạng phủ ra ngoài da và đường lạc (ngang) nối liền các đường kinh với nhau. Trong đường kinh có kinh khí vận hành để điều hòa khí huyết, giúp cơ thể luôn khỏe mạnh, chống lại tác nhân gây bệnh. Hệ thống kinh lạc tiếp nhận các kích thích từ châm cứu thông qua các huyệt đạo.

Mỗi đường kinh hoạt động tùy thuộc vào công năng tạng phủ mà nó xuất phát. Khi châm cứu, thầy thuốc sẽ tác động vào các huyệt trên kinh mạch đó để giải quyết các rối loạn của kinh mạch. Nếu bệnh tật phát sinh do tà khí bên ngoài xâm nhập gây bế tắc kinh lạc, châm cứu vào các huyệt trên đường kinh để loại bỏ tác nhân gây bệnh (khu tà). Nếu bệnh tật do chính khí bên trong suy yếu, châm cứu có tác dụng nâng cao chính khí, lưu thông khí huyết (bổ chính).

Bác sĩ sẽ sử dụng kim châm vào các huyệt đạo trên cơ thể nhằm đáp ứng mục tiêu điều trị
Cấy chỉ sẽ tác động vào các huyệt trên kinh mạch đó để giải quyết các rối loạn của kinh mạch tương tự như châm cứu

3.2 Cơ chế tác dụng của châm cứu theo học thuyết thần kinh – thể dịch của YHHĐ:

Châm cứu là phương pháp gây kích thích để tạo ra một cung phản xạ mới có tác dụng ức chế và phá vỡ cung phản xạ bệnh lý. Cung phản xạ này có thể xuất hiện ngay sau khi thực hiện đưa chỉ vào huyệt đạo hoặc phải điều trị thành nhiều lần để thu được kết quả.

Tùy theo vị trí, tác dụng của nơi thi châm sẽ tạo ra 3 cơ chế gồm tác dụng tại chỗ, tác dụng tiết đoạn và tác dụng toàn thân.

  • Phản ứng tại chỗ: Châm cứu tạo ra một cung phản xạ mới có tác dụng ức chế và phá vỡ cung phản xạ bệnh lý hiện tại như giảm đau nhức, giải phóng sự co cơ, thư giãn gân cốt, bớt sưng nóng,…
  • Phản ứng tiết đoạn: Những tổn thương nội tạng có mối liên hệ mật thiết với cảm giác vùng da ở cùng tiết đoạn với nó. Khi sử dụng huyệt đạo ở một vùng da để điều trị các bệnh lý nội tạng bên trong sẽ gây ra phản ứng tiết đoạn, tạo ra các luồng xung động thần kinh hướng tâm. Các luồng xung động này được truyền đi, tạo ra cung phản xạ ly tâm đi theo các sợi vận động trở về bộ phận cơ của tiết đoạn được châm cứu hoặc đi theo các sợi thực vật đến mạch máu và các cơ quan nội tạng tương ứng. Từ đó, điều hòa các cơ năng sinh lý của cơ thể. Trong châm cứu, thầy thuốc sẽ lựa chọn những vùng da và huyệt vị ở cùng một tiết đoạn thần kinh tương ứng với cơ quan, nội tạng đang bị tổn thương.
  • Phản ứng toàn thân: Một huyệt vị có thể dùng để chữa được nhiều bệnh khác nhau và một bệnh cũng có thể ứng dụng nhiều huyệt đạo khác nhau để chữa bệnh. Thực chất, bất kỳ một kích thích nào trên cơ thể đều có liên quan tới hoạt động của vỏ não, tức là có tính chất toàn thân. Do đó, sau khi thi châm, các luồng xung động thần kinh sẽ được truyền liên tục về tủy sống, qua bó tủy và lên hành não và não. Quá trình châm cứu sẽ làm biến đổi các thể dịch và nội tiết, từ đó ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa, bài tiết.

4/ Quy trình cấy chỉ điều trị xương khớp

Theo văn bản, tài liệu hướng dẫn của Bộ Y tế, quy trình cấy chỉ được thực hiện như sau:

  • Chuẩn bị trước khi cấy chỉ:

Trước khi tiến hành cấy chỉ, bệnh nhân cần tìm đến cơ sở y tế uy tín, chuyên nghiệp để được thăm khám và điều trị đúng cách lựa chọn bác sĩ chuyên khoa châm cứu – phục hồi chức năng hoặc lương y được tạo bài bản về cấy chỉ, châm cứu.

  • Tiến hành cấy chỉ:

Bước 1: Người bệnh nằm, để lộ vùng huyệt được chỉ định

Bước 2: Bác sĩ thực hiện quá trình vô khuẩn như phẫu thuật, vô khuẩn vùng huyệt chỉ định, phủ săng có lỗ.

Bước 3: Cắt chỉ catgut thành từng đoạn dài 1 – 2 cm.

Bước 4: Luồn sợi chỉ catgut đã cắt vào trong lòng kim cấy chỉ

Bước 5: Thực hiện sát trùng vùng huyệt được chỉ định thực hiện cấy chỉ

Bước 6: Đâm thật nhanh kim cấy chỉ qua da, rồi đẩy từ từ vào huyệt, độ sâu khoảng 1-3 cm tùy theo từng huyệt vị.

Bước 7: Cho lòng vào ống kim cấy, đẩy nòng từ từ đi vào. Tiếp tục dần dần rút kim ra. Chỉ catgut sẽ nằm lại trong huyệt

Bước 8: Rút toàn bộ kim cấy chỉ ra khỏi huyệt

Bước 9: Sát khuẩn, đặt gạc và băng dính

  • Theo dõi và xử lý tai biến:

Bệnh nhân được theo dõi tình trạng sức khỏe trong và sau quá trình cấy chỉ.

Xử lý tai biến: Vựng châm, chảy máu tại huyệt vị, dị ứng chỉ catgut, nhiễm trùng (nếu có).

5/ Ứng dụng cấy chỉ trong điều trị xương khớp

Hiện nay, cấy chỉ được ứng dụng trong điều trị các bệnh xương khớp như thoái hóa khớp, đau mỏi vai gáy, đau dây thần kinh tọa,… Bộ Y tế đã có hướng dẫn thực hiện cấy chỉ trong điều trị các bệnh lý về xương khớp.

Phương pháp này sẽ tác động lên các huyệt vị, kích thích các hoạt chất chống viêm, giảm đau nội sinh, cân bằng quá trình tái tạo – bào mòn của xương, thư giãn gân cơ, giải phóng chèn ép rễ thần kinh, hành khí hoạt huyết, điều chỉnh chức năng tạng phủ.

Cấy chỉ tác động lên các huyệt vị, kích thích các hoạt chất chống viêm, giảm đau , điều hòa khí huyết
Cấy chỉ tác động lên các huyệt vị, kích thích các hoạt chất chống viêm, giảm đau , điều hòa khí huyết

Tùy thuộc vào vị trí, tình trạng bệnh mà bác sĩ sẽ lựa chọn vị trí huyệt đạo phù hợp để thực hiện cấy chỉ. Bác sĩ lựa chọn cấy chỉ vào các huyệt tại bộ phận xương khớp sinh bệnh hoặc có thể kết hợp cấy chỉ các huyệt có tác dụng toàn thân để tạo hiệu quả giảm đau, tiêu viêm, giảm căng cứng, bồi bổ can thận, lưu thông khí huyết và làm mạnh gân cốt.

  • Đau dây thần kinh tọa: Có thể thực hiện cấy chỉ tại một số huyệt đạo như Thận du, Đại trường du, Trật biên, Hoàn khiêu, Dương lăng tuyền, Túc tam lý, Tam âm giao, Thủy tuyền.
  • Đau vai gáy: Lựa chọn thực hiện cấy chỉ tại các huyệt vị Phong trì, Kiên tỉnh, Đại trữ, Phong môn, Khúc trì, Hợp cốc, Kiên ngung, Dương trì, Ngoại quan, Tam âm giao, Địa cơ, Thủy tuyền.
  • Đau nhức xương khớp: Tập trung vào các huyệt vị Phong môn, Bách hội, Đại chùy, Dương quan, Thận du, Tam âm giao, Huyết hải, Hạ liêu, Thủy tuyền, Trung đô.
  • Thoái hóa khớp gối: Cấy chỉ vào các huyệt vùng khớp gối như Độc tỵ, Lương khâu, Huyết hải, Âm lăng tuyền. Kết hợp cấy chỉ các huyệt có tác dụng toàn thân như huyệt Thận du, Dương lăng tuyền, Tam âm giao.
  • Viêm khớp dạng thấp: Trường hợp viêm khớp dạng thấp chi trên, thực hiện cấy chỉ vào các huyệt Hợp cốc, Khúc trì, Kiên ngung, Kiên trinh, Thiên tuyền, Tý nhu. Trường hợp viêm khớp dạng thấp chi dưới thực hiện cấy chỉ vào các huyệt Tam âm giao, Thái xung, Trung đô, Thừa sơn, Côn lôn, Trật biên, Thứ liêu, Giáp tích, Dương long tuyền, Túc tam lý, Huyết hải, Phong long.
  • Thoát vị đĩa đệm: Trường hợp thoát vị đĩa đệm mà chưa chèn ép thần kinh và mạch máu có thể thực hiện cấy chỉ vào các huyệt tại chỗ giúp giảm đau và tăng cường nuôi dưỡng vùng cột sống bị thoát vị như huyệt Thận du, Đại trường du, Giáp tích. Trường hợp thoát vị đĩa đệm gây chèn rễ thần kinh vẫn dùng các huyệt trên và bổ sung thêm các huyệt Phong thị, Dương lăng tuyền, Hoàn khiêu, Trật biên, Thừa phù, Côn lôn, Ân môn.

Qua thực tế điều trị bệnh xương khớp bằng phương pháp cấy chỉ đã cho thấy hiệu quả cao, dễ thực hành trên lâm sàng, an và tiết kiệm chi phí cho người bệnh. Hiện nay, cấy chỉ đang được ứng dụng trong quá trình điều trị nhiều bệnh lý mãn tính, bao gồm các bệnh lý xương khớp. Để đạt được hiệu quả điều trị cao, tránh rủi ro, người bệnh nên cấy chỉ tại các cơ sở uy tín, bác sĩ có tay nghề cao.

Trở thành người đầu tiên bình luận cho bài viết này!

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chia sẻ
Bỏ qua