Các Nghiệm Pháp Khám Cơ Xương Khớp – Thông Tin Tham Khảo

Các nghiệm pháp khám cơ xương khớp là những phương pháp được sử dụng để kiểm tra cơ, xương và khớp, giúp phát hiện bệnh lý và đánh giá chi tiết tình trạng. Điều này giúp xác định hướng điều trị hiệu quả. Ban đầu bệnh nhân được khám lâm sàng. Sau đó kiểm tra cận lâm sàng với những nghiệm pháp thích hợp khi nghi ngờ các triệu chứng có liên quan đến một tình trạng cụ thể.

Các nghiệm pháp khám cơ xương khớp
Các nghiệm pháp khám cơ xương khớp có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh

Các nghiệm pháp khám cơ xương khớp là gì?

Các nghiệm pháp khám cơ xương khớp là một loạt các phương pháp được sử dụng để kiểm tra cơ, xương và khớp (bao gồm cả lâm sàng và cận lâm sàng). Từ đó phát hiện những tổn thương do yếu tố vật lý (như vết nứt xương, căng giãn cơ quá mức, đứt dây chằng…) và bệnh lý. Điều này giúp đánh giá chi tiết tình trạng, mức độ nghiêm trọng và xác định hướng điều trị thích hợp nhất.

Tất cả các trường hợp có vấn về hệ cơ xương khớp đều được kiểm tra lâm sàng ngay khi bệnh nhân được tiếp nhận. Sau khi đánh giá các triệu chứng, bệnh sử và những yếu tố liên quan, một số kỹ thuật thích hợp sẽ được chỉ định (cận lâm sàng) để xác định chính xác bệnh lý và mức độ nghiêm trọng. Cuối cùng lập phác đồ điều trị dựa trên kết quả chẩn đoán.

Các nghiệm pháp khám cơ xương khớp cũng được áp dụng cho những bệnh nhân đang điều trị. Với những nghiệm pháp thích hợp, quá trình điều trị và diễn tiến của bệnh sẽ được theo dõi. Điều này giúp bác sĩ dễ dàng đánh giá hiệu quả từ những phương pháp chữa bệnh đang được áp dụng. Sau đó có những thay đổi tùy thuộc vào tình trạng của bệnh nhân (ngừng áp dụng hoặc thay đổi phương pháp nếu cần thiết).

Vì sao cần thực hiện các nghiệm pháp khám cơ xương khớp?

So với những cơ quan nội tạng, bộ máy vận động cũng có chức năng quan trọng không kém. Bộ máy này bao gồm hệ , xương và khớp. Khi kết hợp có thể tạo nên một khung xương hoàn chỉnh có nhiệm vụ che chở, bảo vệ các cơ quan nội tạng khỏi những chấn thương khi có yếu tố tác động.

Khi có va đập mạnh hoặc đột ngột uốn cong quá mức, hệ cơ xương khớp sẽ bị tổn thương. Ngoài ra những tổn thương cũng có thể liên quan đến nhiều bộ phận và cơ quan khác của cơ thể. Cụ thể như cơ quan tạo máu, tim mạch, chuyển hóa, nội tiết, thần kinh…

Các bệnh lý liên quan đến hệ cơ xương khớp có thể xuất hiện ở bất kỳ độ tuổi nào. Tuy nhiên người lớn tuổi (đặc biệt là những người trên 60 tuổi) và trẻ em là những đối tượng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn.

Trong quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh lý, các nghiệm pháp khám cơ xương khớp rất cần thiết và quan trọng, có khả năng quyết định hiệu quả điều trị trong tương lai. Bởi những nghiệm pháp này có tác dụng đánh giá chính xác tình trạng, phát hiện các bệnh lý tiềm ẩn hoặc những tổn thương nhỏ đang phát triển. Từ đó giúp bác sĩ lập phác đồ điều trị thích hợp, bệnh nhân sớm phục hồi, duy trì chức năng vận động và hạn chế các biến chứng.

Các nghiệm pháp khám cơ xương khớp cũng như quy trình thăm khám bộ máy vận động là một quá trình chung. Thông thường, dựa trên nguy cơ của bệnh nhân, bác sĩ sẽ chia thành khám cơ, khám xương và khám khớp. Điều này giúp mang đến nhiều lợi ích và thuận tiện hơn trong thực tế lâm sàng.

Thực hiện các nghiệm pháp khám cơ xương khớp để đánh giá chính xác tình trạng và tìm hướng điều trị thích hợp nhất
Thực hiện các nghiệm pháp khám cơ xương khớp để đánh giá chính xác tình trạng và tìm hướng điều trị thích hợp nhất

Các nghiệm pháp khám cơ

Hệ cơ gồm ba loại, bao gồm:

  • Cơ vân (hay còn gọi là cơ xương)
  • Cơ trơn
  • Cơ đặc biệt (tử cung và tim)

Cơ vận động được cấu tạo từ Actin và Myosin. Dưới sự kích thích của thần kinh vận động, sự vận động của cơ nối tế bào cơ thông qua acetylcholin (trung gian hóa học) và bằng các synáp, ion Ca++ và men cholinesterase. Đối với cơ vân, đơn vị nhỏ nhất là tế bào (tơ cơ). Trong đó nhiều tơ cơ kết hợp với nhau sẽ tạo nên sợi cơ, nhiều sợi cơ tiếp tục hợp thành bó cơ, nhiều bó cơ hợp lại với nhau tạo nên một cơ.

Các gân của cơ vân có thể bám vào xương (đa số cơ vân đều có gân). Chúng chạy song song với nhay theo một chiều và đều gần bằng nhau. Đối với những gân rất dài, chúng đổi chiều nhiều lần, được túi thanh dịch và bao gân hỗ trợ. Giữa cơ và xương, cơ và cơ được ngăn cách bởi những màng cân cơ.

Chính vì thế mà những bệnh lý cơ bao gồm cả bệnh lý của vân cơ, túi thanh dịch, bao gân và gân. Ngoài ra những bệnh cơ vân đều có mối liên hệ mật thiết với bệnh lý thần kinh.

Các nghiệm pháp khám cơ gồm:

1. Khám lâm sàng

Nghiệm pháp khám cơ là nhóm nhỏ nằm trong các nghiệm pháp khám cơ xương khớp. Trong khi thăm khám lâm sàng, người bệnh sẽ được đặt một số câu hỏi liên quan đến triệu chứng hoặc/ và bệnh sử và kiểm tra những dấu hiệu thực thể.

+ Hỏi bệnh

Bệnh nhân được đặt câu hỏi về bệnh sử và những triệu chứng liên quan đến bệnh lý cơ. Từ đó đánh giá sơ nét về tình trạng và loại trừ một số bệnh lý.

Một số triệu chứng cơ bản:

  • Yếu cơ và mỏi cơ: Yếu cơ và mỏi cơ là triệu chứng thường gặp trong giai đoạn đầu. Đối với triệu chứng này, người bệnh sẽ cảm thấy khó chịu, kém vận động, giảm tính linh hoạt, chi tổn thương có xu hướng buông thõng. Yếu cơ và mỏi cơ có thể xuất hiện sau một vài động tác hoặc những cử động cơ bản. Mức độ nghiêm trọng thường tăng dần theo thời gian và phụ thuộc vào bệnh lý đang gặp.
  • Đau cơ: Đau cơ là triệu chứng của nhiều bệnh lý.
    • Đối với bệnh viêm cơ: Đau khu trú ở một cơ.
    • Đối với bệnh lý toàn thân: Đau lan tỏa khó xác định. Những trường hợp bị đau ở dây chằng, bao gân và gân rất dễ nhầm lẫn với bệnh lý cơ, xương và khớp.
  • Chuột rút: Ở người có bệnh lý cơ, chuột rút có thể xuất hiện tự nhiên. Tuy nhiên phần lớn xảy ra do lạnh đột ngột, gắng sức, rối loạn điện giải, men…
  • Các cơn co cứng: Các cơn co cứng thường xảy ra do động kinh, bệnh uống ván và thiếu calci.
  • Máy giật: Đây là tình trạng co giật một phần của cơ. Tình trạng này thường kéo dài trong vài ngày, không đau, xuất hiện tự nhiên. Phần lớn xảy ra ở máy mắt, miệng…
  • Run thớ cơ: Đây là tình trạng co của sợi cơ, có tần số nhanh và biên độ nhỏ trong một thời gian ngắn.
  • Loạn trương lực cơ: Loạn trương lực cơ là tình trạng khó khởi động. Tình trạng này được đặc trưng bởi hiện tượng giãn cơ chậm và khó khi co cơ mạnh đột ngột.

+ Kiểm tra tiền sử bệnh nhân và gia đình

Trong quá trình thăm khám lâm sàng, bệnh nhân sẽ được kiểm tra tiền sử bản thân và gia đình. Điều này giúp phát hiện các bệnh lý bẩm sinh hoặc những vấn đề, bệnh lý liên quan đến yếu tố di truyền. Ngoài ra việc kiểm tra tiền sử bệnh còn giúp phát hiện những tổn thương và bệnh lý kèm theo.

+ Kiểm tra dấu hiệu thực thể

Những dấu hiệu thực thể sẽ được kiểm tra kỹ lưỡng để góp phần xác định chính xác bệnh lý. Đồng thời đề xuất những nghiêm pháp cận lâm sàng thích hợp.

Dưới đây là một số dấu hiệu thực thể thường gặp:

  • Teo cơ

Teo cơ là một trong những triệu chứng thường gặp ở những bệnh nhân có các vấn đề về cơ. Tuy nhiên tình trạng này cũng có thể xảy ra do bất động lâu ngày, bệnh lý thần kinh hoặc rối loạn dinh dưỡng.

Cách khám: Teo cơ có thể dễ dàng được phát hiện bằng cách nhìn, sờ hoặc đo hai bên chi để so sánh.

Teo cơ
Teo cơ là triệu chứng cảnh báo của những bệnh lý về cơ, rối loạn dinh dưỡng, tổn thương thần kinh
  • Giảm cơ lực

Giảm trương lực thường đi kèm với tình trạng teo cơ ở bệnh nhân có các bệnh lý về cơ. Tuy nhiên không giống như teo cơ, triệu chứng này xảy ra đồng đều ở mỗi lần thực hiện động tác.

Cách khám: Để khám giảm cơ trương lực, người bệnh sẽ được yêu cầu đi lại, thực hiện những nghiệm pháp chống đối, mang vác, sử dụng dụng cụ đo cơ trương lực trong khi bác sĩ quan sát.

Ngoài ra bác sĩ sẽ tiến hành khám từng nhóm cơ, từng cơ, từng vùng. Sau đó đánh giá:

    • Giảm nhẹ: Bệnh nhân thực hiện động tác được nhưng không thể kéo dài được.
    • Giảm vừa: Bệnh nhân thực hiện động tác được nhưng yếu.
    • Giảm nặng: Bệnh nhân có thể cử động nhẹ. Tuy nhiên không thể thực hiện được động tác.
    • Cơ lực mất hoàn toàn: Không thể cử động và thực hiện động tác.
  • Trương lực cơ

Khi khỏe mạnh, cơ chắc và chun. Tuy nhiên khi có bệnh lý, cơ thường rắn cứng hoặc mềm nhão.

Cách khám: Quan sát và sờ.

  • Phản xạ cơ

Khi khỏe mạnh, cơ có dấu hiệu co nhẹ khi dùng búa gõ phản xạ vào thân cơ. Đối với những bệnh nhân có các bệnh cơ kèm theo triệu chứng teo cơ, phản xạ cơ ở vùng teo có dấu hiệu giảm hoặc mất hoàn toàn. Tuy nhiên phản xạ gân xương ở những trường hợp này vẫn còn.

Đối với những trường hợp bị teo cơ do bệnh lý thần kinh, phản xạ cơ vẫn còn và kéo dài khá lâu. Ngược lại phản xạ gân xương có dấu hiệu giảm từ rất sớm.

Cách khám: Dùng búa gõ phản xạ vào thân cơ.

  • Hiện tượng nút co cơ

Trong khi gõ phản xạ cơ, một số sợi cơ có thể co nhanh và khu trú. Điều này tạo nên một u nổi lên. Triệu chứng thường tồn tại trong vài giây và được gọi là nút cơ.

Cách khám: Dùng búa gõ phản xạ vào thân cơ.

2. Xét nghiệm và thăm dò cân lâm sàng

Xét nghiệm và thăm dò cân lâm sàng thường được chỉ định ngay sau khi khám lâm sàng. Những kỹ thuật này có khả năng thể hiện rõ nét những vấn đề về cơ và phản ứng của cơ trên hình ảnh. Từ đó xác định chính xác bệnh lý cơ và mức độ nghiêm trọng.

+ Các phương pháp chẩn đoán điện cơ

Dưới đây là những phương pháp chẩn đoán điện cơ thường được áp dụng:

  • Kích thích điện

Kích thích điện được xác định với mục đích xác định thời trị (Chornaxie), cường độ cơ sở (Rhéobese)… Trong đó:

    • Cường độ cơ sở (Rhéobese): Đây là cường độ dòng điện thấp nhất có khả năng gây co bóp cơ.
    • Thời trị (Chornaxie): Đây là khoảng thời gian tối thiểu để hiện tượng con bóp cơ xuất hiện ở mức nhẹ nhất trong khi dùng cường độ gấp hai lần cường độ cơ sở để kích thích.
  • Ghi điện cơ
    • Điện cơ bình thường: Đối với những trường hợp bình thường, điện thế của đơn vị vận động dao động trong khoảng 100 – 500 micro V, thời gian trung bình dao động từ 3 – 6 mili giây.
    • Điện cơ bệnh lý: Những bất thường sẽ xảy ra trong bệnh nhược cơ và các bệnh loạn trương lực cơ.
  • Các men
    • Transaminase SGOT: 1,3 ± 0,4 micromol/l
    • Aldolase (Fructose 1-6 diphosphatase (FDH) trong khoảng 6 đơn vị trên 1 lít)
    • Lactico dehydrogennase (LDH) bình thường ở mức 200 đơn vị trên 1 lít máu.
    • Creatininkinase (CK) Creatin phosphat kinnase (CPK bình thường ở mức 70 đơn vị trên 1 lít máu.
  • Một số chất sinh hóa khác

Ngoài những chất nêu trên, một số chất sinh hóa khác cũng được sử dụng, gồm:

    • Myoglobin có 10 nanogam trên 1ml máu.
    • Xét nghiệm xác định sự hiện diện của creatin trong nước tiểu.

+ Các xét nghiệm thăm dò hình thái

Dưới đây là những xét nghiệm thăm dò hình thái được áp dụng:

  • Siêu âm: Kỹ thuật này được sử dụng để phát hiện những thay đổi bệnh lý của những cơ sâu, cơ vân, dây chằng và gân.
  • Sinh thiết cơ: Sinh thiết cơ có khả năng quyết định chẩn đoán trong nhiều bệnh lý cơ.
  • Một số xét nghiệm khác: Chụp hình ngoại, chụp nhấp nháy với đồng vị phóng xạ, chụp mạch… đều có khả năng kiểm tra và chẩn đoán bệnh cơ.
Siêu âm giúp kiểm tra và đánh giá những thay đổi liên quan đến cơ
Siêu âm giúp kiểm tra và đánh giá những thay đổi liên quan đến cơ sâu, cơ vân, dây chằng và gân

3. Những bệnh lý thường gặp trong chẩn đoán cơ vân

Phần lớn các trường hợp gặp vấn đề ở cơ vân với những bệnh lý sau:

+ Rối loạn chức năng vận động

Có ba hội chứng thường gặp liên quan đế rối loạn chức năng vận động, bao gồm:

  • Hội chứng nhược cơ

Hội chứng nhược cơ thể hiện cho tình trạng chóng mỏi cơ và yếu cơ xảy ra ở mắt, tay và chân… Hội chứng này thường liên quan đến sự phá hủy những thụ thể acetylcholine thông qua trung gian tế bào cùng với tự kháng nguyên.

Hội chứng nhược cơ thường xảy ra ở nữ giới. Những triệu chứng (yếu cơ) thường có xu hướng giảm nhẹ khi nghỉ ngơi và tăng lê khi hoạt động.

  • Hội chứng co cứng cơ do giảm Ca++ máu (tetani)

Hội chứng co cứng cơ do giảm Ca++ máu (tetani) là tình trạng suy giảm Ca++ máu (tetani) khiến cơ tổn thương thường xuyên có dấu hiệu co cứng kèm theo cảm giác nhức. Khi xét nghiệm sẽ thấy Ca++ máu giảm.

  • Hội chứng liệt chu kỳ do giảm kali máu

Đối với hội chứng liệt chu kỳ do giảm kali máu, bệnh nhân thực hiện xét nghiệm sẽ thấy nồng độ kali trong máu giảm, liệt mềm hoàn toàn từng đợt, có dấu hiệu giảm kali khi điện tim.

+ Loạn dưỡng cơ

Loạn dưỡng cơ (Muscular Dystrophy) là một nhóm những bệnh lý liên quan đến di truyền gây yếu cơ và mất khối lượng cơ theo thời gian. Bệnh chủ yếu xảy ra do đột biến gen làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất dystrophin.

Dystrophin là một loại protein rất cần thiết cho việc duy trì những chức năng bình thường của cơ. Khi dystrophin bị thiếu hụt, bệnh nhân sẽ gặp một số vấn đề liên quan đến khả năng di chuyển, nuốt, đi lại và sự phối hợp giữa các cơ.

Thông thường loạn dưỡng cơ sẽ được phân thành loạn dưỡng cơ không có rối loạn trương lực và có rối loạn trương lực.

  • Loạn dưỡng cơ có rối loạn trương lực: Về triệu chứng lâm sàng, bệnh nhân có dấu hiệu loạn trương lực, thực hiện điện cơ thấy có lúc nghỉ không ổn định.
  • Loạn dưỡng cơ không có rối loạn trương lực: Bệnh nhân bị teo cơ ở góc chi, triệu chứng đối xứng và có dấu hiệu tăng dần kèm theo cơ lực giảm dần, điện cơ có biên độ thấp, phản xạ cơ mất.

+ Viêm cơ

Viêm cơ là tình trạng các cơ mang chức năng hỗ trợ cơ thể di chuyển bị viêm. Thông thường bệnh sẽ xảy ra do các bệnh lý tự miễn, nhiễm trùng hoặc phát triển sau một chấn thương.

  • Viêm cơ do vi khuẩn: Nếu vi khuẩn là nguyên nhân gây viêm cơ, bệnh nhân sẽ có biểu hiện nóng, đỏ, sưng, đau tại khu vực bị ảnh hưởng. Sau đó xuất hiên các ổ mủ. Khi chọc dò phát hiện mủ và vi khuẩn, có hội chứng nhiễm khuẩn.
  • Viêm cơ miễn dịch: Khi bị viêm cơ miễn dịch, bệnh nhân sẽ có dấu hiệu cứng chắc và sưng đau cơ, sau đó là teo cứng nhưng không bao giờ hóa mủ.

Các nghiệm pháp khám xương

Trong các nghiệm pháp khám cơ xương khớp, bệnh nhân chủ yếu được khám xương dựa trên các triệu chứng (triệu chứng cơ năng, triệu chứng thực thể), các chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm và thăm dò chức năng.

Trong cơ thể người có nhiều xương. Chúng có chức năng nâng đỡ cơ thể, hình thành hình dáng chuẩn. Đồng thời kết hợp với nhau để bảo vệ các cơ quan nội tạng. Ngoài ra các xương còn là nơi dự trữ, bổ sung canxi với hàm lượng cần thiết để duy trì một số hoạt động sinh lý của cơ thể.

Về cấu trúc, xương được phân thành xương xốp và xương đặc. Về mặt hóa học, xương được phân thành muối khoáng và khung protein. So với hệ cơ, hệ xương thường bị tổn thương hơn, chủ yếu do chấn thương và bệnh lý. Khi xương bị tổn thương, các biểu hiện sẽ xuất hiện và được phân thành 2 loại gồm:

  • Những thay đổi về cấu trúc (vi thể)
  • Những thay đổi về hình thái (đại thể)

Chính vì thế khi có bệnh lý về xương, người bệnh sẽ được kiểm tra lâm sàng kết hợp với X-quang và xét nghiệm.

1. Khám lâm sàng

Trong khi khám lâm sàng các bệnh lý về xương, người bệnh sẽ được kiểm tra những triệu chứng cơ năng và triệu chứng thực thể.

+ Triệu chứng cơ năng

Những triệu chứng cơ năng thường gặp và được thăm khám kỹ lưỡng gồm:

Đau xương là triệu chứng thường gặp nhất trong những bệnh lý về xương
Đau xương là triệu chứng thường gặp nhất trong những bệnh lý về xương

+ Triệu chứng thực thể

Thông thường những triệu chứng thực thể sẽ được kiểm tra bằng cách quan sát, sờ và nắn nhẹ.

Dưới đây là những thay đổi về kích thước và hình dáng của xương:

  • Bệnh lùn do loạn sản sụn.
  • Bệnh khổng lồ, to đầu chi do u tuyến yên.
  • Những dị dạng từng phần của cơ thể.
  • Cố định trên thân xương không di động.
  • Mật độ rắn.
  • Phát hiện những khối u của xương.
  • Da căn bóng do một số khối u ác tính phát triển nhanh.
  • Những vùng xương bị hủy, thấy sọ do bệnh đa u tủy xương.
  • Vùng xương viêm bị biến dạng, có bã đậu hoặc lỗ rò chảy dịch mủ trong bệnh viêm xương.

2. Chụp X-quang trong chẩn đoán bệnh xương

Hầu hết bệnh nhân mắc bệnh xương đều được yêu cầu chụp X-quang để kiểm tra. Kỹ thuật này tạo ra hình ảnh chi tiết về các xương, bao gồm cả những bất thường trên xương (khối u, vết nứt, gãy…). Từ đó xác định tình trạng và lập hướng điều trị thích hợp.

Ngoài ra một số phương pháp chụp khác như chụp MRI, CT Scanner, chụp đồng vị phóng xạ cũng được chỉ định.

+ Các phương pháp chụp

  • Chụp thông thường: Bệnh nhân được chụp X-quang với những tư thế cần thiết.
  • Chụp cắt lớp: Thường được chỉ định với mục đích kiểm tra những tổn thương khu trú và tổn thương sớm.
  • Chụp cộng hưởng từ hạt nhân (chụp MRI) và chụp cắt lớp vi tính (CT Scanner): MRI và CT Scanner có khả năng phát hiện ra những tổn thương sâu và có kích thước nhỏ. Ngoài ra chụp cộng hưởng từ hạt nhân còn có khả năng chẩn đoán phân biệt các bệnh lý xương với những tổn thương mô mềm.
  • Chụp đồng vị phóng xạ: Kỹ thuật này có thể chụp nhấp nháy.

+ Những tổn thương X-quang của xương

Dưới đây là một số tổn thương cơ bản của xương:

  • Loãng xương: Thường gặp do không cung cấp đủ các khoáng chất nuôi dưỡng xương, đặc biệt là canxi.
    • Loãng xương khu trú.
    • Loãng xương lan tỏa. Các triệu chứng được tìm thấy trên tất cả các xương.
  • Xương đậm đặc
    • Tập trung ở một phần của xương.
    • Đậm đặc lan tỏa ở nhiều nơi.
    • Rải rác xen kẽ với thưa xương
    • Đặc xương xảy ra ở đầu xương, dưới sụn, viền quanh thân xương…
  • Những tổn thương hốc xương và khuyết xương
    • Hốc xương: Hốc xương thể hiện cho tình trạng những tổ chức xương bị mất tạo nên hình bầu dục hoặc hình tròn.
    • Khuyết xương: Ở thân hoặc phần đầu của xương bị mất một phần tổ chức xương.
  • Hình mọc thêm xương
    • Viêm dày màng xương.
    • Màng xương bị phá vỡ.
    • Hình rạn, gãy, lún, khớp giả.
    • Xương biến dạng hoặc lệch trục.
    • Hình ảnh vôi hóa phần mềm ngoài xương, u xương…
    • Tại phần sụn nối của những xương dài, xương mọc tương tự như hình nấm.
    • Hình ảnh gai xương.
Hình dạng, kích thước của gai xương trên hình ảnh X-quang
Hình dạng, kích thước của gai xương trên hình ảnh X-quang thông thường

3. Xét nghiệm và thăm dò cận lâm sàng

Đối với những bệnh lý xương, bệnh nhân sẽ được xét nghiệm và thăm dò cận lâm sàng sau khi kiểm tra hình ảnh. Tùy thuộc vào tình trạng, bác sĩ có thể chỉ định xét nghiệm định lượng hoặc/ và thực hiện những nghiệm pháp thăm dò chuyển hóa.

+ Các xét nghiệm định lượng

Dưới đây là những xét nghiệm định lượng thường được áp dụng ở những bệnh nhân có vấn đề, bệnh lý về xương.

  • Xét nghiệm Calci, phospho niệu: Kết quả xét nghiệm ở bệnh nhân có bệnh lý xương như sau:
    • Calci niệu: Dao động trong khoảng 3,75 – 6,25 mmol/ 24 giờ (100 – 250 mg/l)
    • Phospho niệu: Ở mức 15 mmol/24 giờ (60mg).
  • Xét nghiệm Calci và phospho máu
    • Phospho máu: Dao động trong khoảng 0,95 – 1,3 mmol/l (30-40 mg/l). Phospho máu giảm trong trường hợp thiếu vitamin D, cường cận giáp.
    • Calci máu: 2,5 mmol/l (100 mg/l) tăng trong bệnh lý cường cận giáp. Bệnh nhân bị u xương thứ phát.
  • kiểm tra men Phosphatase trong máu
    • Phosphatase acid: Tăng lên từ 1 – 4 đơn vị quốc tế /100 ml máu ở những bệnh nhân bị ung thư tiền liệt tuyến di căn xương.
    • Phosphatase kiềm: Mức độ Phosphatase kiềm giúp phản ánh những hoạt động của tạo cốt bào. Tăng lên từ 9 – 35 đơn vị quốc tế/100 ml. Tăng trong cường cận giáp.
    • Hydroxyprolin niệu: Dao động trong khoảng 150 – 375 mmol/24 giờ (20-50 mg), tăng trong bệnh tiêu xương, cường cận giáp do u.

+ Các nghiệm pháp thăm dò chuyển hóa

Tùy thuộc vào tình trạng, những nghiệm pháp thăm dò chuyển hóa dưới đây sẽ được áp dụng:

  • Nghiệm pháp tăng calci niệu

Bệnh nhân được tiêm tĩnh mạch với khoảng 20ml dung dịch gluconat calci 10% (176 mg canxi). Sau 9 giờ kể từ khi tiêm định lượng calci, tiến hành lấy nước tiểu để kiểm tra calci. Sau đó so sánh với lượng calci có trong nước tiểu được lấy từ 9 giờ ngày hôm trước khi tiêm.

Thông thường, nước tiểu chứa 30% lượng calci được tiêm vào. Tuy nhiên ở những trường hợp bị nhuyễn xương, lượng thải trừ calci đo được dưới 30%.

  • Nghiệm pháp tăng calci máu

Bác sĩ tiến hành truyền tĩnh mạch cho bệnh nhân với 13,2 mg calci/ 1kg cân nặng. Định lượng calci trong nước tiểu và máu đo được sau khi tiêm được lấy ra để so sánh với định lượng calci trong nước tiểu và máu của ngày hôm trước khi tiêm.

Thông thường sau khi tiêm, lượng calci trong nước tiểu và máu sẽ tăng lên.

  • Nghiệm pháp vitamin D2 của Lichwitz

Bệnh nhân được yêu cầu uống 15 mg vitamin D2/ ngày, liên tục 2 ngày. Sau đó tiến hành định lượng calci niệu trong những ngày sau. Thông thường mức calci niệu sẽ tăng lên từ 50 – 100 mg mỗi 24 giờ. Mức calci niệu tăng nhiều và kéo dài ở những bệnh nhân bị loãng xương. Mức calci niệu không tăng ở bệnh nhân bị nhuyễn xương.

  • Nghiệm pháp Cortison

Bệnh nhân uống 25 mg Prednisolon/ ngày, liên tục 5 ngày. Bình thường, mức calci niệu không thay đổi. Mức calci niệu tăng nhiều ở những bệnh nhân bị loãng xương.

  • Dùng đồng vị phóng xạ

Bệnh nhân được sử dụng Ca45 và Ca47, sau đó tiến hành đánh giá khả năng chuyển hóa calci.

+ Định lượng vitamin trong máu và nội tiết tố

Bệnh nhân được định lượng vitamin trong máu và nội tiết tố như sau:

  • Định lượng vitamin D
  • Thyrocalcitonin: Những trường hợp bình thường có mức 60 nanogam/ 1ml huyết tương.
  • Định lượng Perathormon (PTH): Những trường hợp bình thường có 1 nanogam/ ml máu. Chỉ số này sẽ tăng ở những bệnh nhân bị cường cận giáp.
Kiểm tra máu để định lượng vitamin trong máu và nội tiết tố
Kiểm tra máu để định lượng vitamin trong máu và nội tiết tố, giúp xác định bệnh lý xương

Các nghiệm pháp khám khớp

Trong các nghiệm pháp khám cơ xương khớp, nghiệm pháp khám khớp được áp dụng phổ biến. Điều này xảy ra do các bệnh lý về khớp đa dạng và chiếm phần lớn các trường hợp mắc bệnh về cơ xương khớp.

Những bệnh lý về khớp không chỉ xảy ra do chấn thương mà còn do nhiều bệnh nội khoa tác động làm phát sinh những triệu chứng ở khớp. Cụ thể như hô hấp, nội tiết, tiêu hóa, máu, thần kinh… Khi thăm khám, bệnh nhân sẽ được kiểm tra lâm sàng và cận lâm sàng. Trong đó khám lâm sàng có giá trị quan trọng cao.

1. Khám lâm sàng

Trong khi khám lâm sàng bệnh lý khớp, người bệnh sẽ được kiểm tra triệu chứng cơ năng, triệu chứng thực thể và kiểm tra tiền sử bệnh.

+ Triệu chứng cơ năng

Những triệu chứng cơ năng dưới đây có thể giúp phát hiện các bệnh lý về khớp:

  • Đau khớp

Đau khớp là triệu chứng thường gặp nhất. Triệu chứng này có thể xảy ra sau chấn thương hoặc do bệnh lý. Một số đặc điểm cần chú ý khi kiểm tra triệu chứng đau khớp:

    • Vị trí đau khớp
    • Tính chất của cơn đau
    • Thực hiện những nghiệm pháp đánh giá mức độ đau khớp:
      • Đánh giá bằng thang nhìn: Bác sĩ đề ra một thước vạch 10 độ (0 là không đau; 10 là đau nhức nghiêm trọng, không thể chịu nổi, đau tối đa). Bệnh nhân sẽ cảm nhận triệu chứng và tự xác định mức độ đau của mình.
      • Đánh giá bằng khả năng đi lại và sinh hoạt hàng ngày.
      • Đánh giá mức độ đau khi sử dụng dụng cụ tì nén vào khớp.
  • Hạn chế vận động

Bệnh nhân được yêu cầu thực hiện một số động tác, đi lại trong khi bác sĩ quan sát. Hoặc người bệnh được đặt một vài câu hỏi liên quan đến khả năng vận động của cột sống và khớp, người bệnh tự xác định:

    • Không co được cẳng tay
    • Không nắm được bàn tay
    • Không giơ tay lên cao
    • Không thể cúi xuống
    • Không ngồi xổm được
    • Không thể quay cổ…
  • Cứng khớp vào buổi sáng

Cứng khớp là tình trạng co cứng, rất khó để duỗi hoặc tiếp tục gập khớp theo ý muốn, đôi khi kèm theo cảm giác đau khi gắng sức. Tình trạng này có thể xảy ra ở bất kỳ thời điểm nào trong ngày. Tuy nhiên phổ biến nhất vào buổi sáng sau khi ngủ dậy.

Khi bị cứng khớp vào buổi sáng, người bệnh sẽ có dấu hiệu khớp cứng đờ, khó hoặc không thể vận động. Sau từ 5 – 30 phút, bệnh nhân thấy khớp mềm trở lại, co và duỗi khớp dễ dàng hơn. Tình trạng cứng khớp thường xảy ra ở khớp gối (thoái hóa khớp) và bàn tay.

  • Dấu hiệu phá gỉ khớp

Dấu hiệu phá gỉ khớp thường phổ biến ở những bệnh nhân bị thoái hóa khớp. Khi mới ngủ dậy, bệnh nhân có cảm giác vướng và khó vận động. Tuy nhiên khi xoa bóp kết hợp với một vài động tác vận động nhẹ nhàng, người bệnh cảm thấy thoải mái, dấu hiệu phá gỉ khớp mất đi.

+ Triệu chứng thực thể

Khi quan sát và sờ nắn có thể nhận thấy một số triệu chứng dưới đây:

  • Sưng khớp

Đây là triệu chứng thường gặp ở những bệnh nhân bị viêm và chấn thương. Triệu chứng này khiến hình dáng của khớp thay đổi, có dấu hiệu to hơn bình thường.

    • Sưng khớp do viêm: Có thể xảy ra do viêm mạn tính hoặc viêm cấp.
    • Sưng khớp không do viêm: Thường xảy ra do chấn thương trong sinh hoạt.
Sưng khớp
Sưng khớp là tình trạng khớp tổn thương bị biến dạng và sưng to sau chấn thương hoặc do bệnh lý
  • Xếp loại bệnh dựa trên tổn thương khớp

Dựa vào số lượng và vị trí của khớp tổn thương, bác sĩ có thể xếp loại bệnh lý khớp. Cụ thể:

    • Xếp loại bệnh theo số lượng khớp tổn thương: Viêm một khớp, viêm đa khớp…
    • Xếp loại bệnh theo vị trí: Khớp lớn, khớp nhỏ.
  • Diễn biến của viêm khớp
    • Viêm khớp tiến triển
    • Viêm khớp di chuyển
    • Viêm tái phát từng đợt
    • Viêm cố định một vị trí
  • Dị dạng và biến dạng khớp

Dị dạng và biến dạng khớp thường chỉ xảy ra ở những trường hợp bệnh khớp nặng hoặc là kết quả của những bệnh khớp bẩm sinh.

  • Những thay đổi về động tác

Bệnh nhân bị hạn chế vận động hay hạn chế động tác, hạn chế thụ động hoặc chủ động. Thông thường, hạn chế thụ động và chủ động như nhau. Tuy nhiên ở một số trường hợp, bệnh nhân bị hạn chế vận động chủ động nhưng có thể vận động thụ động bình thường.

  • Khớp lỏng lẻo

Khi thực hiện thấy những động tác ở cột sống và khớp có biên độ lớn hơn bình thường.

  • Tràn dịch khớp

Tràn dịch khớp thể hiện cho tình trạng lượng dịch trong ổ khớp tăng lên bất thường. Tình trạng này thường rõ rệt ở khớp gối và cổ chân.

+ Kiểm tra tiền sử bệnh của bản thân và gia đình

Bệnh nhân được kiểm tra tiền sử bệnh của bản thân và gia đình để xác định những bệnh lý khớp có liên quan đến yếu tố di truyền hoặc bẩm sinh hay không.

2. Thăm dò cận lâm sàng

Dưới đây là những phương pháp thăm dò cận lâm sàng đối với những bệnh nhân có bệnh lý khớp.

+ Chụp X-quang trong bệnh lý khớp

Tùy thuộc vào các đánh giá ban đầu, bệnh nhân có thể được chỉ định chụp X-quang với một hoặc những phương pháp chụp dưới đây:

  • Chụp thường: Chụp xác định và đánh giá cấu trúc khớp.
  • Chụp cắt lớp: Kiểm tra những tổn thương khu trú và tổn thương sớm.
  • Chụp cắt lớp vi tính (CT Scanner): Kỹ thuật này cho phép bác sĩ kiểm tra những tổn thương nhỏ và sâu.
  • Chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI): Chụp MRI có khả năng xác định những tổn thương sâu và có kích thước nhỏ. Đồng thời kiểm tra các bệnh lý nguy hiểm, xác định bệnh lý khớp do tổn thương xương hay mô mềm.
  • Quét xương: Đây là phương pháp sử dụng tia X sau khi đã bơm thuốc cản quang vào ổ khớp. Với loại thuốc này, hình ảnh về những tổn thương sẽ rõ ràng hơn.
Chụp X-quang trong bệnh lý khớp
Chụp X-quang trong bệnh lý khớp giúp kiểm tra những bất thường của xương và mô mềm trong cấu trúc khớp

Những tổn thương cơ bản có thể gặp sau khi chụp X-quang cột sống và khớp:

  • Thay đổi về xương
    • Hình ảnh lệch trục, di lệch.
    • Lún cột sống, lún xương, xẹp đốt sống.
    • Dị dạng khớp với hình hốc, khuyết, nham nhở, bào mòn.
    • Xấu hiện cầu xương, gai xương.
    • Loãng xương hoặc bị mất chất vôi.
    • Thân đốt sống và đầu xương bị biến dạng.
  • Thay đổi của diện khớp, khe khớp: Diện khớp thường thay đổi muộn, sau một thời gian sụn khớp bị tổn thương. Trong thời gian đầu, điện khớp mờ và không rõ nét. Sau đó, diện khớp nham nhở, hốc và khuyết ở đầu xương xuất hiện. Một số thay đổi thường gặp:
    • Dính khớp
    • Khe khớp hẹp
    • Khe khớp giãn rộng
  • Thay đổi phần mềm quanh khớp: Áp xe lạnh xuất hiện ở quanh vùng tổn thương ở bệnh nhân bị lao cột sống và lao khớp. Ngoài ra vôi hóa dây chằng, bao khớp cũng có thể xuất hiện ở một số bệnh khớp.

+ Những phương pháp chụp đặc biệt

  • Chụp ảnh hồng ngoại
  • Chụp bơm thuốc cản quang
  • Chụp nhấp nháy bằng đồng vị phóng xạ
  • Chụp cắt lớp vi tính (CT Scanner)

+ Xét nghiệm đánh giá viêm trong bệnh khớp

Những xét nghiệm đánh giá viêm trong bệnh khớp được chỉ định để phát hiện những phản ứng viêm, diễn tiến của quá trình viêm và mức độ nghiêm trọng.

Một số xét nghiệm thường được thực hiện gồm:

  • Công thức máu
    • Trong viêm khớp nhiễm khuẩn: Tăng số lượng bạch cầu đa nhân trung tính.
    • Trong lao khớp: Đôi khi tăng bạch cầu lympho.
  • Tốc độ lắng máu: Hầu hết các bệnh viêm khớp đều làm tăng tốc độ lắng máu. Cụ thể như:
  • Sợi huyết: Người bình thường có sợi huyết từ 300 – 500 mg%. Định lượng này tăng trong hầu hết những dạng viêm khớp.
  • Điện di protein huyết thanh: Giảm albumin và tăng globulin trong các bệnh viêm khớp, tăng 2 và globulin.
Các xét nghiệm đánh giá viêm trong bệnh khớp
Các xét nghiệm đánh giá viêm trong bệnh khớp gồm kiểm tra công thức máu, tốc độ lắng máu, sợi huyết…

Các nghiệm pháp khám cơ xương khớp mang đến ý nghĩa quan trọng trong quá trình chẩn đoán, điều trị và theo dõi diễn tiến bệnh. Chính vì thế các nghiệm pháp này cần được thực hiện thận trọng bởi những người có chuyên môn. Từ đó sớm phát hiện bệnh lý và có những phương pháp chữa bệnh phù hợp nhất, giảm nguy cơ phát sinh biến chứng, bệnh mau khỏi.

Tham khảo thêm:

NÊN ĐỌC

Trở thành người đầu tiên bình luận cho bài viết này!

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chia sẻ
Bỏ qua