Bệnh viêm khớp Still ở trẻ em và thông tin cần biết

Bệnh viêm khớp Still ở trẻ em còn được gọi là bệnh viêm khớp vô căn ở trẻ. Bệnh thường xảy ra ở bé gái và trẻ nhỏ có độ tuổi từ 2 đến 7 tuổi. Bệnh tiến triển khiến trẻ chậm phát triển kèm theo cảm giác đau và cứng ở các khớp bị ảnh hưởng, xuất hiện ban da. Không có phương pháp điều trị dứt điểm. Tuy nhiên sự tiến triển của bệnh có thể được kiểm soát bằng thuốc.

Bệnh viêm khớp Still ở trẻ em
Thông tin cơ bản về bệnh viêm khớp Still ở trẻ em, nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và hướng điều trị

Bệnh viêm khớp Still ở trẻ em là gì?

Bệnh Still là một tình trạng viêm toàn thân hiếm gặp, thuộc thể hệ thống và là một thể của bệnh viêm khớp dạng thấp thiếu niên. Bệnh thường gây sốt, tổn thương da, làm ảnh hưởng đến khớp xương và nhiều cơ quan trong cơ thể. Thông thường tình trạng viêm khởi phát ở những người dưới 16 tuổi và tiến triển đến khi trưởng thành. Trường hợp nhẹ có thể bùng phát trong 3 tháng.

Bệnh có thể xảy ra ở người lớn và trẻ em. Tuy nhiên bệnh Still trẻ em thường phổ biến hơn. Theo kết quả thống kê, bệnh chiếm khoảng 1/5 tình trạng viêm khớp mạn tính ở thiếu niên. Những triệu chứng của bệnh có thể tiến triển ở trong và cả ngoài khớp (điển hình như tổn thương da và nội tạng).

Bệnh viêm khớp Still ở trẻ em có thể xảy ra ở nhiều độ tuổi khác nhau. Tuy nhiên bệnh thường bùng phát trong khoảng thời gian từ 2 đến 7 tuổi, phổ biến hơn ở bé gái.

Triệu chứng của bệnh viêm khớp Still ở trẻ em

Những triệu chứng cơ bản của bệnh viêm khớp Still ở trẻ em gồm:

  • Tổn thương khớp

Bệnh viêm khớp Still ở trẻ em thường gây tổn thương từ 1 đến 4 khớp trên cơ thể. Trong đó khớp gối, mắt cá chân, khớp cổ tay và khuỷu tay và các khớp chịu nhiều ảnh hưởng nhất. Không có biểu hiện ở cột sống. Ít gặp hơn ở khớp ngón tay và khớp háng.

Thông thường tổn thương gây sưng đau khiến trẻ khó chịu và thường xuyên quấy khóc. Trong một số trường hợp, bệnh nhân có thể bị cứng khớp.

Bệnh viêm khớp Still ở trẻ em thường gây tổn thương từ 1 đến 4 khớp trên cơ thể
Bệnh viêm khớp Still ở trẻ em gây tổn thương từ 1 đến 4 khớp trên cơ thể dẫn đến sưng đau và cứng khớp
  • Tổn thương da

Đối với Still trẻ em, bệnh thường gây ra những biểu hiện trên da dưới dạng phát ban và có tính đặc hiệu. Khi quan sát có thế nhìn thấy những nốt màu hồng nhẵn hoặc nổi gồ nhẹ trên bề mặt da, thường tăng số lượng và có xu hướng rải rác khắp cơ thể khi bị sốt.

Trong một số trường hợp khác, hồng ban tập trung ở các chi, thân mình và lòng bàn tay. Tuy nhiên ban đỏ không kèm theo cảm giác đau và ngứa, có thể mất dần trong vài giờ nhất là khi thân nhiệt được ổn định.

Ngoài ra các hạt dưới da có thể xuất hiện và tập trung quanh các khớp. Tương tự như ban đỏ, hạt dưới da không kèm theo cảm giác đau nhưng thường cứng.

  • Sưng hạch bạch huyết ở cổ

Bệnh Still khiến trẻ bị viêm và sưng nhiều hạch bạch huyết. Trong đó phổ biến nhất là các hạch bạch huyết ở cổ. Lúc này có thể sờ thấy hạch bạch huyết sưng mềm và kèm theo đau họng.

  • Sốt cao

Bệnh nhân bị sốt cao kèm theo ban đỏ. Tình trạng này thường kéo dài trên 2 tuần.

Bệnh viêm khớp Still ở trẻ em khiến bệnh nhân sốt cao kèm theo ban đỏ
Bệnh viêm khớp Still ở trẻ em khiến bệnh nhân sốt cao kèm theo ban đỏ nhưng không ngứa
  • Triệu chứng khác

Một số triệu chứng nghiêm trọng khác gồm:

    • Đau cơ
    • Tổn thương mắt (sưng và viêm)
    • Thay đổi tế bào máu
    • Gan to, lách to
    • Viêm màng phổi
    • Khó thở hoặc đau khi thở
    • Viêm màng tim có thể được phát hiện thông qua kết quả siêu âm.

 Bệnh viêm khớp Still ở trẻ em xảy ra do đâu?

Nguyên nhân gây bệnh Still nói chung và bệnh viêm khớp Still ở trẻ em nói riêng vẫn chưa được xác định. Tuy nhiên các nghiên cứu cho thấy bệnh có thể tiến triển từ sự rối loạn miễn dịch trong cơ thể khiến các mô khỏe mạnh bị tấn công. Tình trạng này có liên quan đến sự bất thường của gen di truyền, cytokine và hệ thống FLA.

Yếu tố nguy cơ của bệnh Still ở trẻ em

Một số yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm khớp Still ở trẻ em gồm:

  • Tình trạng viêm nhiễm: Sự bất thường của hệ thống miễn dịch có thể được kích hoạt từ những tình trạng viêm nhiễm. Bao gồm cả nhiễm trùng nấm men và nhiễm khuẩn.
  • Giới tính: Kết quả thống kê cho thấy em bé gái có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn so với em bé trai.
  • Độ tuổi: Thường gặp ở trẻ có độ tuổi từ 2 đến 7 tuổi.
  • Di truyền: Bệnh Still ở trẻ em có thể được di truyền từ ông bà hoặc cha mẹ mắc bệnh Still. Thông thường nguy cơ mắc bệnh cao nhất ở những trẻ có ba và mẹ mắc bệnh.

Mức độ nguy hiểm của bệnh viêm khớp Still ở trẻ em

Bệnh viêm khớp Still ở trẻ em nếu không được kiểm soát tốt sẽ gây ra những vấn đề sau:

  • Vấn đề về tăng trưởng ở trẻ em

Bệnh Still thường khiến trẻ chậm phát triển và sụt cân. Lúc này chiều dài các chi các thể bị hạn chế, bệnh nhi còi và thấp hơn so với những trẻ cùng độ tuổi. Ngoài ra quá trình tăng trưởng của trẻ cũng có thể bị ảnh hưởng từ các thuốc dùng trong điều trị bệnh Still.

  • Tổn thương nội tạng

Bệnh viêm khớp Still ở trẻ em sau khi tiến triển thường gây ra những tổn thương nội tạng. Đồng thời làm tăng nguy cơ tử vong. Các tổn thương có thể gặp:

    • Viêm màng ngoài tim
    • Viêm cơ tim
    • Viêm gan
    • Viêm lách
    • Tích tụ chất lỏng xung quanh phổi dẫn đến khó thở…
  • Tổn thương và phá hủy khớp

Tương tự như bệnh Still ở người lớn, bệnh Still ở trẻ em cũng có thể gây tổn thương và phá hủy các khớp. Tình trạng này thường tiến triển ở khớp cổ tay và đầu gối. Những khớp ít ảnh hưởng hơn gồm khớp bàn chân, khớp ngón tay, cổ, khớp háng.

Tổn thương và phá hủy khớp
Tổn thương và phá hủy khớp khi bệnh Still ở trẻ em không được điều trị và kiểm soát tốt
  • Hội chứng hoạt hóa đại thực bào

Mặc dù hiếm gặp nhưng hội chứng hoạt hóa đại thực bào có thể xảy ra ở những trẻ em mắc bệnh Still. Biến chứng này tiến triển khi nồng độ chất béo trong máu tăng đột biến, số lượng tế bào máu thấp kết hợp với chức năng gan bất thường.

 Biện pháp chẩn đoán bệnh viêm khớp Still ở trẻ em

Bệnh viêm khớp Still ở trẻ em không được chẩn đoán bằng các xét nghiệm cụ thể. Chính vì thế kết quả cuối cùng thường dựa trên các tiêu chí đánh giá và chẩn đoán cận lâm sàng.

1. Chẩn đoán xác định

Có 4 tiêu chí chính và 5 tiêu chí phụ trong chẩn đoán viêm khớp Still ở trẻ em. Theo Yamaguchi, bệnh sẽ được xác định khi trẻ có ít nhất 3 tiêu chí phụ và 2 tiêu chí chính.

4 tiêu chí chính

  • Bệnh nhân sốt cao (> 39 độ) trên 7 ngày.
  • Viêm khớp hoặc/ và đau khớp trên hai tuần.
  • Xuất hiện ban đỏ nhưng không kèm theo biểu hiện đau hay ngứa. Da đỏ có xu hướng nổi nhiều và lan rộng hơn trong khi sốt.
  • Số lượng bạch cầu tăng cao, thường trên 10.000 / microL.

5 tiêu chí phụ

  • Cảm giác đau họng kéo dài.
  • Hạch bạch huyết sưng to.
  • Có bất thường trong kết quả kiểm tra chức năng gan.
  • Gan hoặc lách to.
  • Kết quả âm tính khi kiểm tra kháng thể kháng nguyên và yếu tố dạng thấp.

2. Chẩn đoán cận lâm sàng

Một số kỹ thuật thường được bổ sung trong quá trình kiểm tra để nâng cao mức độ chính xác của kết quả chẩn đoán. Cụ thể:

  • Xét nghiệm vi sinh: Âm tính.
  • Xét nghiệm miễn dịch: Âm tính với yếu tố dạng thấp, kháng thể kháng nhân và kháng thể kháng chuỗi.
  • Chụp X-quang: Chụp X-quang không cho thấy bất thường không thời gian đầu tiến triển. Trong giai đoạn tiến triển, X-quang thấy phù nề phần mềm, tràn dịch khớp gối, tổn thương khớp…
  • Xét nghiệm Feritin huyết thanh: 
    • Xét nghiệm Feritin huyết thanh cho kết quả tăng cao trong thời kỳ tiến triển và bình thường trong thời kỳ lui bệnh.
    • Tỉ lệ glycosylate feritin giảm dưới 20%.
  • Xét nghiệm tế bào máu ngoại vi:
    • Trong giai đoạn tiến triển, hồng cầu và tiểu cầu giảm.
    • Tăng sinh dòng bạch cầu hạt và tăng bạch cầu.
    • Tăng số lượng bạch cầu, chủ yếu là bạch cầu đa nhân trung tính (khoảng 80%).
  • Sinh thiết tủy và xét nghiệm tủy đồ: Bình thường.
  • Xét nghiệm viêm: Dương tính
    • Tốc độ lắng máu tăng.
    • Tăng nồng độ protein C phản ứng.
    • Tăng số lượng fibrinogen.
    • Tăng gamma globulin.
    • Định lượng globulin miễn dịch huyết thanh cho kết quả tăng IgG.
Xét nghiệm viêm
Bệnh nhân được yêu cầu xét nghiệm viêm, xét nghiệm Feritin huyết thanh, chụp X-quang để chẩn đoán bệnh lý

3. Chẩn đoán phân biệt

So với người lớn, trẻ nhỏ bị bệnh Still thường ít được chẩn đoán phân biệt. Tuy nhiên nếu cần thiết, bệnh viêm khớp Still ở trẻ em có thể được chẩn đoán phân biệt với những bệnh lý sau:

  • Viêm khớp phản ứng
  • Những bệnh lý liên quan đến máu
  • Nhiễm khuẩn huyết và một số tình trạng nhiễm khuẩn khác
  • Bệnh tự miễn dịch (bao gồm Lupus ban đỏ hệ thống và viêm khớp dạng thấp)

Phương pháp điều trị bệnh viêm khớp Still ở trẻ em

Hiện tại không có phương pháp điều trị dứt điểm bệnh viêm khớp Still ở trẻ em. Thông thường bệnh nhi được sử dụng thuốc kết hợp các biện pháp chăm sóc để giảm nguy cơ biến chứng và kiểm soát triệu chứng. Đồng thời áp dụng thêm một số biện pháp hỗ trợ khác để hạn chế tác dụng phụ của thuốc.

1. Sử dụng thuốc điều trị bệnh viêm khớp Still ở trẻ em

Đối với trẻ nhỏ, việc sử dụng các thuốc điều trị cần hết sức thận trọng. Bởi nhóm đối tượng này thường gặp tác dụng phụ trong thời gian chữa bệnh. Ở những trường hợp nhẹ, bệnh nhân có thể chỉ được yêu cầu áp dụng những biện pháp chăm sóc. Ở những trường hợp nặng hơn, bác sĩ có thể kê đơn chứa những loại thuốc sau:

  • Thuốc giảm đau thông thường

Thuốc giảm đau thông thường được sử dụng cho những trẻ mắc bệnh Still bị đau khớp ở mức độ từ nhẹ đến trung bình. Nhóm thuốc này có tác dụng cải thiện triệu chứng đau và những vấn đề liên quan.

  • Paracetamol

Paracetamol thường được chỉ định cho những trẻ bị viêm khớp Still. Vì thuốc này ít gây tác dụng phụ, tương đối an toàn. Đồng thời có thể giảm đau và hạ sốt cho trẻ.

Paracetamol
Paracetamol thường được dùng trong điều trị bệnh Still ở trẻ em với mục đích giảm đau và hạ sốt
  • Thuốc chống viêm không steroid

Thuốc chống viêm không steroid thường được xem xét và chỉ định thận trọng cho trẻ nhỏ. Việc sử dụng nhóm thuốc này có thể giúp giảm viêm và giảm đau ở mức độ trung bình.

Tuy nhiên thuốc chống viêm không steroid có nhiều nguy cơ gây tác dụng phụ cho trẻ. Chính vì thế thuốc thường chỉ được dùng trong thời gian ngắn và dùng với liều lượng thấp. Những loại thuốc chống viêm không steroid thường được sử dụng gồm Ibuprofen và Naproxen.

  • Corticosteroid

Corticosteroid ít khi được chỉ định cho trẻ em. Thông thường loại thuốc này chỉ được chỉ định cho những trẻ không có đáp ứng với thuốc chống viêm không steroid. Tùy thuộc vào khả năng đáp ứng và mức độ nghiêm trọng của bệnh, Corticosteroid có thể được sử dụng bằng đường uống hoặc đường tiêm tĩnh mạch.

Corticosteroid thường gây ra nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng. Điển hình da mỏng, teo da, tăng huyết áp, tăng nhãn áp, làm ảnh hưởng đến mắt… Do đó Corticosteroid chỉ được dùng trong thời gian ngắn.

  • Methotrexat

Trong trường hợp không có đáp ứng tốt với Corticosteroid, người bệnh sẽ được điều trị thay thế bằng Methotrexat. Đây là một loại thuốc ức chế miễn dịch có khả năng cản trở sự tăng trở bất thường của một số tế bào trong cơ thể. Đồng thời giảm viêm và hỗ trợ giảm đau.

Tùy theo thể trạng và cân nặng của bệnh nhi, liều dùng thuốc Methotrexat có thể dao động trong khoảng 3,5 đến 20mg/ tuần.

  • Hydroxychloroquine

Hydroxychloroquine là một loại thuốc chống sốt rét, có thể được dùng để thay thế Methotrexat hoặc Corticosteroid. Thông thường Hydroxychloroquine được sử dụng cho những người mắc các bệnh tự miễn kèm theo tổn thương nặng, không có đáp ứng tốt với các thuốc chữa trị khác.

Ngoài tác dụng điều trị sốt rét, Hydroxychloroquine có khả năng phòng ngừa và cải thiện tình trạng sưng đau do viêm khớp. Ngoài ra thuốc còn có tác dụng điều trị những tổn thương ngoài da.

Đối với bệnh viêm khớp Still ở trẻ em, trẻ có thể được sử dụng với liều 3 – 6,5 mg/kg trọng lượng /ngày (tối đa 400 mg).

Hydroxychloroquine
Hydroxychloroquine được chỉ định cho những bệnh nhân có tổn thương nặng, không có đáp ứng với các thuốc chữa trị khác
  • Thuốc chống thấp khớp tác dụng chậm (DMARDs)

Thuốc chống thấp khớp tác dụng chậm (DMARDs) được xem xét và sử dụng trong quá trình điều trị bệnh Still ở trẻ em. Nhóm thuốc này có tác dụng giảm viêm. Đồng thời ức chế quá trình phá hủy xương và sụn khớp.

Thông thường thuốc chống thấp khớp tác dụng chậm sẽ được sử dụng kết hợp với thuốc sinh học.

  • Thuốc sinh học

Đối với những trường hợp nặng, có biến chứng và kháng trị, bệnh nhân sẽ được sử dụng một trong các loại thuốc sinh học gồm thuốc ức chế IL-1 anakira, Infliximab, Tocilizumab, Adalimumab, Canakinumab.

2. Biện pháp chăm sóc tại nhà

Người bệnh thường được yêu cầu sử dụng thuốc kết hợp với các biện pháp tại nhà để rút ngắn thời gian làm lành tổn thương và hạn chế bùng phát những đợt viêm cấp của bệnh. Đối với bệnh viêm khớp Still ở trẻ em, những biện pháp thường được áp dụng gồm:

  • Chế độ ăn uống lành mạnh

Các chuyên gia khuyến cáo, những trẻ mắc bệnh viêm khớp Still cần ăn uống đủ chất để hỗ trợ sự phát triển của cơ thể. Đặc biệt nên tăng cường bổ sung vitamin D và canxi từ sữa, phô mai, các loại hạt, đậu… để nâng cao sức khỏe xương khớp. Ngoài ra bệnh nhi cần ăn nhiều thực phẩm giàu axit béo omega-3 (cá hồi, cá trích, cá ngừ, dầu gan cá tuyết, hạnh nhân…) và vitamin C (cam, ớt chuông, bưởi, quýt…) để hỗ trợ giảm viêm, tăng cường sức đề kháng và hạ sốt.

Chế độ ăn uống lành mạnh
Chế độ ăn uống lành mạnh giúp hỗ trợ sự phát triển của cơ thể, nâng cao sức khỏe xương khớp, giảm sốt và giảm viêm
  • Đi lại và vận động nhẹ nhàng

Những trẻ mắc bệnh viêm khớp Still nên được hướng dẫn đi lại và vận động nhẹ nhàng, tránh nằm yên một chỗ. Biện pháp này có tác dụng tăng cường sức khỏe và cơ bắp, giúp hỗ trợ giảm đau và nâng cao sự phát triển của trẻ nhỏ.

  • Chườm lạnh hoặc chườm nóng

Phụ huynh cần sử dụng túi ấm hoặc túi lạnh để chườm lên vị trí bị đau của trẻ. Cả hai biện pháp này đều có tác dụng giảm sưng đau và thư giãn xương khớp. Để cải thiện triệu chứng, bạn nên cho trẻ áp dụng biện pháp chườm nóng/ chườm lạnh mỗi ngày 3 lần, mỗi lần từ 10 – 15 phút.

Theo dõi và kiểm soát bệnh viêm khớp Still ở trẻ em

Trong thời gian điều trị bệnh viêm khớp Still, trẻ cần được theo dõi nghiêm ngặt để sớm phát hiện bất thường và kiểm soát sự tiến triển của bệnh. Vì thế phụ huynh cần theo dõi những biểu hiện của trẻ và thông báo với bác sĩ nếu nhận thấy các triệu chứng không thuyên giảm.

Ngoài ra phụ huynh cần đưa trẻ đến bệnh viện và tái khám định kỳ 3 tháng/ lần. Điều này giúp bác sĩ dễ dàng hơn trong việc đánh giá hiệu quả điều trị của các phương pháp. Đồng thời theo dõi diễn tiến của bệnh. Nếu không có đáp ứng tốt, bệnh nhân sẽ được hướng dẫn điều trị với những phương pháp thích hợp hơn.

Tái khám định kỳ 3 tháng/ lần
Tái khám định kỳ 3 tháng/ lần để đánh giá hiệu quả điều trị của các phương pháp và theo dõi diễn tiến của bệnh

Tiên lượng

Bệnh Still là bệnh mãn tính và không có phương pháp điều trị dứt điểm. Đối với trẻ em, bệnh Still và các triệu chứng thường kéo dài đến tuổi trưởng thành, đồng thời gây biến chứng nguy hiểm. Tuy nhiên nếu sớm phát hiện và điều trị, bệnh có thể được kiểm soát.

Theo thống kê, phần lớn trẻ nhỏ đều có đáp ứng tốt với các thuốc điều trị và biện pháp chăm sóc. Do đó ngay khi nhận thấy biểu hiện bất thường, phụ huynh cần đưa trẻ đến bệnh viện để được chẩn đoán và hướng dẫn xử lý.

Trở thành người đầu tiên bình luận cho bài viết này!

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *