Phân tích hoạt tính và khả năng gia cố đất của Puzolan tự nhiên tỉnh Đăknông

05-11-2018

Nguồn puzolan tự nhiên tồn tại ở dạng đá bazan tại khu vực Tây Nguyên rất dồi dào, đã được sử dụng để sản xuất xi măng poóc lăng puzolan, thay thế một phần xi măng trong bê tông đầm lăn, gạch không nung...

 

Tóm tắt: Nguồn puzolan tự nhiên tồn tại ở dạng đá bazan tại khu vực Tây Nguyên rất dồi dào, đã được sử dụng để sản xuất xi măng poóc lăng puzolan, thay thế một phần xi măng trong bê tông đầm lăn, gạch không nung. Tuy nhiên, việc sử dụng puzolan tự nhiên kết hợp với một số chất kết dính như xi măng, vôi, phụ gia để gia cố đất đã được nghiên cứu và áp dụng ở một số quốc gia nhưng chưa được nghiên cứu tại Việt Nam. Bài báo trình bày kết quả thí nghiệm thành phần hóa học, khoáng vật, độ hút vôi của puzolan tự nhiên khai thác tại huyện K’rông Nô tỉnh Đắk Nông, từ đó phân tích và đánh giá khả năng ứng dụng chúng trong gia cố đất. Kết quả cho thấy chất lượng của puzolan tự nhiên tại khu vực nghiên cứu đáp ứng các yêu cầu quy định trong TCVN 6882:2001, TCVN3735:1982 và ASTM C618-89. Sử dụng thành công puzolan tự nhiên gia cố đất để xây dựng công trình giao thông, thủy lợi không chỉ giảm giá thành mà còn giảm thiểu tác hại môi trường do giảm lượng dùng xi măng và các vật liệu cát, đá, sỏi.

Từ khóa: Puzolan tự nhiên, gia cố đất, độ hút vôi, tỉnh Đắk Nông, Tây Nguyên.

Abstract:At present, the source of puzoolan (natural, artificial) is plentiful, it is used in the manufacture of Portland cement puzoolan or replace a part of cement in the construction of roller compacted. v.v… However, the use of puzoolan as a binder, partial replacement of cement to strengthen the soil in place has not been much research.This paper analyzesthe chemical composition of minerals, the lime sorption of natural puzolan extracted in K'rông Nô district of Dak Nong province to evaluate their applicability in soil reinforcement. Comparison of the results of the sample analysis at two locations in the study area according to current standards shows that the ability to apply natural puzoolan is relatively high in the land consolidation in place.

Keywords: Natural puzoolan, In-situ soils, Mineral-Chemistry -Lime absorption.

1. Đặt vấn đề

Trong giao thông và thuỷ lợi nhu cầu sử dụng chất kết dính để gia cố đất tại chỗ là rất lớn. Đất sau khi gia cố được làm nền, mặt đường giao thông, hay thậm chí làm vật liệu chống thấm thay thế cho đất sét trong thuỷ lợi. Chất kết dính hiện nay thường sử dụng để gia cố đất tại chỗ như: vôi, xi măng, Puzolan, Rovo, HRB, v.v… [1],[2],[3]. Bản chất của chúng là quá trình hóa, lý và cơ lý xảy ra đồng thời giữa đất với một nhóm các chất kết dính trên. Bài báo tập trung phân tích các thành phần hóa học, khoáng vật, độ hút vôi của puzolan tự nhiên khai thác tại huyện K’rông Nô tỉnh Đắk Nông để đánh giá khả năng ứng dụng chúng trong gia cố đất tại chỗ. Puzolan rất dồi dào chúng thường tồn tại ở hai dạng: (1) Puzolan nhân tạo không có hoạt tính ở trạng thái tự nhiên, nhưng sau khi đã được xử lý kỹ thuật thích hợp sẽ có đủ tính chất đặc trưng của Puzolan như: tro baymuội silic, xỉ than, gạch nung nhẹ lửa; (2) Puzolan tự nhiên là sản phẩm của các quá trình hoạt động địa chất nội sinh và ngoại sinh như: tro núi lửa, tuff, thuỷ tinh núi lửa, diatomit, trepel, opoka và một số sản phẩm có nguồn gốc biến chất hoặc phong hoá khác. Chúng chứa SiO2 hoặc chứa SiO2 và Al2O3 mà bản thân chúng có rất ít hoặc không có tính kết dính, nhưng khi được nghiền mịn và có hơi ẩm chúng sẽ tham gia phản ứng hóa học với Ca(OH)2 ở nhiệt độ thường để hình thành các hợp chất có tính kết dính [4],[5],[6],[7]. Một trong các yếu tố quan trọng của puzolan cần phải nghiên cứu là thành phần hoá học, yêu cầutổng hàm lượng SiO2 + Al2O3 + Fe2O3 phải lớn hơn 70% [3],[8]. Puzolan tự nhiên khi sử dụng làm chất kết dính sẽ hạn chế được các thành phần có hại trong xi măng cũng như trong đất tại chỗ như: (1) Puzolan có các thành phần SiO2 vô định hình (SiO2 kết tinh có hoạt tính rất thấp), Al2O3 và Fe2O3 hoạt tính; các chất này sẽ phản ứng với thành phần có hại Ca(OH)2 trong quá trình thủy hóa của xi măng tạo thành các khoáng có cường độ cao, làm tăng cường độ, độ đặc chắc và chống thấm cho vật liệu gia cố [9]. (2) Puzolan còn hạn chế được một số đặc điểm bất lợi của đất tại chỗ như: Thành phần hạt đất, làm tăng thêm hàm lượng hạt thô khi đất có hàm lượng sét lớn; Hàm lượng hữu cơ (axit humic cao), tăng quá trình thuỷ hoá các phản ứng pozzlanic; Giảm ảnh hưởng của lượng muối đến quá trình thuỷ hoá xi măng; Thành phần hoá học chúng liên quan đến nguồn gốc thành tạo, đặc điểm thành phần của đất, trong đất vùng nghiên cứu có chứa thành phần SiO2 (oxit nguyên sinh và oxit thứ sinh), chúng có tác dụng tích cực trong việc tăng cường độ; Thành phần khoáng vật của đất ảnh hưởng tương đối lớn đến chất lượng gia cố. Đối với loại đất tồn tại khoáng vật montmorillonite, lượng nước trong khoáng vật sẽ thay đổi mạnh theo độ ẩm của môi trường xung quanh, đồng thời nước có thể tách ra khỏi khoáng vật để đi vào không khí nếu như độ ẩm không khí thấp và ngược lại, có thể hấp thụ nước của không khí ẩm, chúng hầu như thành tạo trong điều kiện ngoại sinh, khí hậu khô và nửa khô. So sánh kết quả phân tích mẫu lấy tại 2 vị trí trên địa bàn nghiên cứu theo tiêu chuẩn hiện hành cho thấy khả năng ứng dụng puzolan tự nhiên là tương đối cao có thể dùng để gia cố đất tại chỗ.

2. Yêu cầu kỹ thuật của nguyên liệu puzolan và phương pháp phân tích

2.1. Nguồn Puzolan thí nghiệm

Tây Nguyên nói chung và tỉnh Đắk Nông nói riêng là một vùng cao nguyên rộng lớn, có thành tạo địa chất khá đơn giản, chủ yếu là các thành tạo trầm tích, trầm tích phun trào, phun trào bazan, đá xâm nhập và các trầm tích bở rời có tuổi từ Mezozoi đến hiện đại. Đắk Nông hiện có lượng khoáng sản Puzolan tự nhiên rất lớn, theo đánh giá ban đầu hiện có 05 điểm mỏ phân bố tập trung tại xã Quảng Phú và Buôn Choah, huyện Krông Nô với tổng diện tích khoảng 18 km2, tài nguyên dự báo khoảng 83 triệu tấn. Bài báo lựa chọn loại đá bazan từ mỏ puzolan tự nhiên nằm trên địa bàn xã Quảng Phú, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông để nghiên cứu, các mẫu lấy ở các vị trí khác nhau (chân, sườn mỏ) Hình 1. Để kiểm chứng về khả năng ứng dụng puzolan tự nhiên làm chất dính đất tại chỗ ngoài việc gửi mẫu đến các đơn vị uy tín trong nước còn gửi mẫu cho Phòng thí nghiệm phân tích và kiểm tra vật liệu Plausiger Dorfstrase 12 Cty TNHH MPA của Đức để phân tích.

Hình 1. Địa điểm lấy mẫu tại xã Quảng Phú, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông

a

b

Hình 2. Mẫu puzolan tự nhiên tại vị trí nghiên cứu. A b

2.2. Yêu cầu kỹ thuật của nguyên liệu puzolan và phương pháp phân tích

Nguồn nguyên liệu puzolan tự nhiên từ các loại đá trên rất dồi dào, tuy nhiên để đánh giá chất lượng và khả năng sử dụng chúng trong gia cố đất tại chỗ cần thí nghiệm kiểm tra các chỉ tiêu kỹ thuật sau: (1) Lượng vôi hút (hoạt tính hóa học) từ dung dịch vôi bão hoà sau 30 ngày đêm của một gam puzolan lớn hơn 30 mgCaO/g.pg. Theo yêu cầu kỹ thuật của puzolan dùng trong công nghiệp sản xuất xi măng được quy định trong TCVN 3735-1982, [10]. Thời gian kết thúc đông kết của mẫu chế tạo từ vữa vôi + puzolan (tỉ lệ 20:80) không muộn hơn 96 giờ kể từ lúc chế tạo; Đảm bảo khả năng chịu nước của mẫu chế tạo từ vữa vôi + puzolan không muộn hơn 3 ngày đêm kể từ lúc kết thúc đông kết; (2) Tổng hàm lượng SiO2 + Al2O3 + Fe2O3 > 70%; hàm lượng SO3trong puzolan không được lớn hơn 1%; mất khi nung < 10%; hàm lượng kiềm thải Na2O < 1,5%; Chỉ số hoạt tính cường độ so với điều kiện chuẩn ở 28 ngày > 75%, yêu cầu kỹ thuật của puzolan dùng trong bê tông đầm lăn theo tiêu chuẩn Mỹ ASTM C618 [3]. Ở nước ta hiện có tiêu chuẩn TCXDVN 395:2007 là tiêu chuẩn về “Phụ gia khoáng cho bê tông đầm lăn”, ngoài ra có tiêu chuẩn ngành 14TCN 105:1999 là tiêu chuẩn về “Phụ gia khoáng hoạt tính nghiền mịn cho bê tông và vữa” và tiêu chuẩn phụ gia khoáng cho xi măng TCVN 6882:2001 [11],[12],[13],[14]. Một số khoáng vật sét như kaolinit, montmorilonit, hydromica, v.v... có mặt với hàm lượng lớn sẽ ảnh hưởng bất lợi khi sử dụng nguyên liệu puzolantrong việc gia cố.

Xuất phát từ yêu cầu trên, các phương pháp phân tích được sử dụng gồm:

  • Phương pháp huỳnh quang tia X (XRF) sử dụng xác định thành phần hóa silicat của mẫu. Độ hút vôi, hàm lượng keo được xác định bằng phương pháp hóa phân tích tại Viện Địa chất - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
  • Thành phần và hàm lượng khoáng vật được xác định bằng các phương pháp phân tích nhiệt vi sai (DTA) và nhiễu xạ rơnghen (XRD) tại Viện Địa chất - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Các thông số phân tích kỹ thuật được thực hiện tại Phòng thí nghiệm phân tích và kiểm tra vật liệu Plausiger Dorfstrase 12 Cty TNHH MPA của Đức bao gồm: (1) Quan sát mặt mẫu puzolannhờ phương pháp hiển vi điện tử quét SEM; (2) Phân tích thành phần các nguyên tố hóa họcbằng phương pháp chụp phổtán xạ năng lượngEDX.(3) Thành phần pha tinh thể của vật liệu đã được xác định thông qua phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD).(4) Khảo nghiệm về phản ứngpuzzolan các mẫu đá đã được nghiền nhỏ và hòa với dung dịch kiềm thành bột nhão. Lần lượt được sử dụng dung môi no hydroxid Na và Ca.
  • Các thông số về công nghệ như: chỉ số hoạt tính cường độ, thời gian đông kết vữa vôi- puzolan, khả năng chịu nước của mẫu chế tạo từ vữa vôi + puzolan, hàm lượng kiềm thải được xác định theo các phương pháp quy định trong tiêu chuẩn TCVN 6882: 2001, TCVN3735:1982 tại Viện Công nghệ Vật liệu xây dựng - Bộ Xây dựng.

3. Kết quả thí nghiệm

3.1. Đặc điểm thạch học - khoáng vật

Đánh giá ban đầu cho thấy Puzolan tự nhiên có cấu tạo đặc xít, tương đối rắn chắc, màu sắc thay đổi từ xám đen đến xám sáng, kiến trúc nổi ban, nền dolerit. Thành phần thạch học được phân tích Rơnghen nhiễu xạ (XRD), Bảng 1.

Bảng 1. Tổng hợp phân tích thành phần khoáng vật bằng Rơnghen

Ký hiệu

Độ sâu

(m)

Augit

(%)

Forsterit

(%)

Thạch anh

(%)

Hematit

(%)

Cristobalit

(%)

Lepidocrocit

(%)

Albit

(%)

QP1

M1-2.5

28

22

5

11

2

6

26

M2-5.0

27

23

6

12

1

5

26

M3-10.0

29

23

4

11

1

5

27

QP2

M4-2.0

25

24

5

13

3

3

27

M5-4.5

27

23

6

12

1

5

26

Đặc điểm thành phần của puzolan: Bazan khu vực Quảng Phú, Krông Nô có thành phần gồm các khoáng vật ban tinh từ 35% - 44%: plagioclas, olivin, đôi khi có augit; thành phần khoáng vật của nền 56% - 61% bao gồm: vi tinh plagioclas, Pyroxen xiên, các khoáng vật phụ thường gặp là quặng ilmenit, magnetit, ít hơn là apatit. Khoáng vật thứ sinh: epidot, clorit, serpentin, idingsit. Mẫu thí nghiện đều có các loại khoáng chất khá tốt, phần lớn đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật và công nghệ của phụ gia hoạt tính, nửa hoạt tính trong sản xuất xi măng và đặc biệt có thể làm chất kết dính để gia cố đất tại chỗ.

Bảng 2. Tổng hợp phân tích thành phần khoáng vật bằng phân tích thạch học

Ký hiệu

Độ sâu

(m)

Ban tinh

(%)

Pyroxen

(%)

Olivin

(%)

Nền

(%)

Plagioclas

(%)

Pyroxen xiên

(%)

Quặng

(%)

QP1

M1-2.5

40

22-24

16-18

60

29-31

22-24

7-8

M2-5.0

39

24-26

19.21

61

24-26

21-23

7-9

M3-10.0

44

23-25

18-20

56

27-29

22-24

6-7

QP2

M4-2.0

42

20-22

19-21

58

28-30

21-23

8-9

M5-4.5

40

21-23

19-21

60

29-31

21-24

8-10

3.2. Đặc điểm thành phần hóa học

Lấy mẫu Puzolan tại vị trí nghiên cứu ở tỉnh Đắk Nông để thí nghiệm thành phần hoá học ta có kết quả như Bảng 3. Ta thấy, tổng hàm lượng Si2O + Al2O3 + Fe2O3 của các mẫu M11, M12, M13 = 82.55%, 72.97%, 70.91% lớn hơn giá trị yêu cầu theo ASTM C618-89 là 70%. Không chứa hàm lượng hữu cơ. Hàm lượng SO3 đều nhỏ hơn 1%. Hàm lượng các thành phần thủy tinh khá cao nên có thể cho rằng các mẫu đá bazan được khảo nghiệm đều có tính chất puzolan. Mẫu puzolan bột cho tác dụng với kiềm cũng như với vôi, kết quả thí nghiệm cho thấy khả năng đông cứng rất rõ rệt. Như vậy, kết quả phân tích ban đầu cho thấy, chất lượng puzolan tự nhiên đủ chất lượng để gia cố đất.

Hình 3, trình bày giản đồ nhiễu xạ tia X của mẫu puzolan, kết quả cho thấy: Trên giản đồ xuất hiện một lượng khá lớn pha vô định hình (thủy tinh), đây là pha quyết định hoạt tính của puzolan. Đối với puzolan có nguồn gốc tuff bazan, pha vô định hình thường rất lớn (có khi đạt tới 60%), các pha kết tinh (quartz, plagioclaz, pyroxen, olivin, v.v...) chiếm khoảng 20% - 30% và thường bị biến dạng rất mạnh nên tuff bazan có hoạt tính puzolan cao. Thành phần pha tinh thể chủ yếu trong puzolan là SiO2 tự do ở dạng quartz (α - S1O2), với píc nhiễu xạ đặc trưng tại 2q= 26,7°. Ngoài ra, một lượng nhỏ caldecahydrit (CaO.Al2O3.10H2O) với pic nhiễu xạ đặc trưng tại 2q= 12,5° cũng được phát hiện. Một số hình ảnh phân tích thành phần hóa học của puzolan tự nhiên, Hình 4, Hình 5, Hình 6.

Bảng3.Phân tích định lượng bằng bằng phương pháp phổ huỳnh quang tia X.

TT

Chỉ tiêu

M11

M12

M13

TT

Chỉ tiêu

M11

M12

M13

1

SiO2

54.86

43.04

41.87

8

Na2O

0.20

3.05

4.26

2

TiO2

1.05

2.46

2.43

9

K2O

3.17

1.89

2.49

3

Al2O3

19.06

14.58

13.93

10

P2O5

0.17

0.64

0.79

4

T-Fe2O3

8.63

15.82

15.11

11

Cr2O3

0.02

-

-

5

MnO

0.12

-

-

12

NiO

0.01

-

-

6

MgO

2.35

8.36

9.08

13

SO3

0.08

0

0

7

CaO

0.96

10.07

9.93

14

LOI

9.08

-

-

Ghi chú: Mẫu M11 được phân tích tại Viện Địa chất - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam; mẫu M12, M13 phân tích tại công ty CTY TNHH Xử lý chất thải và môi trường Đức.

Hình 4. Giản đồ XRD của mẫu puzolan

Hình 5. Giản đồ phân tích thành phần kim loại của mẫu puzolan

a, Ảnh quang học

b,Ảnh BSE

c, Ảnh SEM

Hình 6. Ảnh chụp để phân tích thành phần hóa học của puzolan tự nhiên

3.3 Độ hút vôi

Hoạt tính các mẫu puzolan tự nhiên và hoạt hóa nhiệt được đánh giá thông qua độ hút vôi. Kết quả thí nghiệm độ hút vôi của các mẫu cho thấy độ hút vôi của mẫu puzơlan tự nhiên không đồng đều, chỉ đạt độ hút vôi trung bình 38.78 mg CaO/g> 30 mg CaO/g (TCVN 3735: 1982).

Bảng 4. Kết quả phân tích độ hút vôi

Mẫu thí nghiệm

M21

M22

M23

M24

M25

Trung bình

Độ hút vôi (mg CaO/g)

22.96

38.54

51.64

25.13

55.65

38.78

 

4. Phân tích khả năng gia cố đất của puzolan tự nhiên Đắk Nông

Các nước trên thế giới có nguồn puzolan tự nhiên dồi dào đã nghiên cứu sử dụng loại vật liệu này kết hợp với một số chất kết dính trộn với vật liệu đất tại chỗ để xây dựng đường giao thông, công trình đất đắp. Một số tác giả đã nghiên cứu thành công sử dụng puzolan tự nhiên kết hợp vôi để gia cố đất sét yếu, đất dính như Khelifa và Mohamed (2009); Khelifa và nnk (2010); Khelifa và nnk (2011); Asson và Eugene (2014); Aref và nnk(2016). Mfinanga và Kamuhabwa (2008)đã tiến hành thí nghiệm tìm ra tỉ lệ trộn puzolan tự nhiên và vôi với đất;puzolan tự nhiên, vôi và thạch cao với đất để hỗn hợp đất gia cố đạt được cường độ yêu cầu xây dựng đường giao thông tại Tanzania. Kết quả nghiên cứu tìm ra cấp phối phù hợp làđấttrộn với 10 đến 30% puzolan (theo khối lượng) và 2% vôi. Nếu thêm thạch cao sẽ làm cường độ kháng nén tăng lên đáng kể. Gaty và nnk (1994)báo cáo về sử dụng puzolan tự nhiên để xây dựng nền và kết cấu mặt đường có cường độ thấp. Eriksen và nnk (2011), Olekambainei và Visser (2004) thông qua các thí nghiệm trong phòng xác định cường độ kháng nén, cường độ kháng cắt, mô đun đàn hồi, chỉ số CBR ở các độ tuổi 28, 90 và 180 ngày của hỗn hợp puzolan tự nhiên, vôi và đất. Kết quả cho thấy puzolan tự nhiên trộn với đất có thể dùng để xây dựng đường giao thông.Timothy và nnk (2007) cũng báo cáo về việc dùng puzolan để làm đường giao thông. Mateos (1977)đã thí nghiệm cường độ kháng nén tại độ tuổi 28 và 90 ngày của hỗn hợp đất cát trộn puzolan tự nhiên và nhựa đường. Kết quả cho thấy khối lượng riêng và cường độ hỗn hợp đất gia cố tăng lên rõ rệt. Hỗn hợp đất cát – puzolan tự nhiên – vôi có thể dùng để xây dựng nền đường, áo đường cho đường cao tốc và bãi đỗ xe.Vakili và nnk (2013) dùng puzolantự nhiêntrộn với xi măng để gia cố đất loại sét.Qua các kết quả nghiên cứu ở nước ngoàicho thấy, puzolan tự nhiên hoàn toàn có thể kết hợp với vôi, xi măngđể cải thiện các tính chất cơ lý của đấtđểxây dựng nền và kết cấu mặt đường giao thông, công trình đất đắp, nếu chất lượng puzolan đạt các yêu cầu trong ASTM C618-89.

Như phân tích ở trên, các mẫu puzolan lấy tại mỏ puzolan xã Quảng Phú tỉnh Đắk Nông có chất lượng đạt yêu cầu quy định trong TCVN 6882:2001, TCVN3735:1982 và ASTM C618-89. Như vậy, kết quả phân tích ban đầu cho thấy chất lượng puzolan tự nhiên đủ chất lượng để gia cố đất. Các bước nghiên cứu tiếp theo của đề tài này gồm: (1) Phân tích chỉ tiêu cơ lý, khoáng hóa của vật liệu đất tại chỗ ®(2) Thí nghiệm tìm ra cấp phối hợp lý: “đất – puzolan – xi măng – vôi/RoadCem” dựa trên các chỉ tiêu kháng nén, kháng kéo, mô đun đàn hồi, độ trương nở  ®(3) Thiết kế, thi công xây dựng mô hình đường GTNT thực nghiệm ®(4) Biên soạn tiêu chuẩn cơ sở và định mức thi công đường GTNT bằng đất tại chỗ trộn puzolan tự nhiên và chất kết dính.

5. Kết luận

Bài báo trình bày kết quả thí nghiệm thành phần hóa học, khoáng vật, độ hút vôi của puzolan tự nhiên tỉnh Đắk Nông, đồng thời phân tích các kết quả nghiên cứu của nước ngoài về sử dụng puzolan tự nhiên để gia cố đất, từ đó đánh giá khả năng ứng dụng chúng trong gia cố đất. Kết quả cho thấy chất lượng của puzolan tự nhiên tại khu vực nghiên cứu đáp ứng các yêu cầu quy định trong TCVN 6882:2001, TCVN3735:1982 và ASTM C618-89, đồng thờithỏa mãn các yêu cầu chất lượng để làm phụ gia bê tông và gia cố đất.

Nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung vào phân tích nghiên cứu tỷ lệ trộn giữa puzolan tự nhiên, đất tại chỗ và xi măng, để có cấp phối phù hợp nhất đáp ứng được yêu cầu gia cố đất tại chỗ để xây dựng đường giao thông và công trình đất đắp thủy lợi.

LỜI CẢM ƠN

Nghiên cứu này được hỗ trợ kinh phí từ Đề tài độc lập cấp quốc gia “Nghiên cứu sử dụng puzolan tự nhiên trong xây dựng và bảo trì các công trình giao thông nông thôn, thủy lợi trên địa bàn tỉnh Đắk Nông”, mã số: ĐTĐL.CN-55/16, do Bộ Khoa học và Công nghệ giao Viện Thủy Công chủ trì thực hiện.

Ths. Nguyễn Hữu Năm1, Ths. Phạm Văn Minh2, TS. Vũ Bá Thao2, Ths. Nguyễn Huy Vượng2, Ths. Đinh Văn Thức2

 (1)Viện Thuỷ điện và Năng lượng tái tạo, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam

(2)Phòng Nghiên cứu Địa kỹ thuật, Viện Thủy công, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam

Nguồn: Tạp chí Khoa học và công nghệ Thủy lợi

Tin Liên Quan
Đánh giá ảnh hưởng của các khu đô thị mới đến vấn đề thoát lũ hạ lưu hệ thống sông Kone - Hà Thanh
24/01/2019

Sự phát triển của các khu đô thị có ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề thoát lũ tại các hệ thống sông. Tuy nhiên, tại Việt Nam, vấn đề này chưa được nghiên ...

Áp dụng công cụ tích hợp phục vụ xây dựng bản đồ ngập lụt lưu vực sông Kỳ Cùng, tỉnh Lạng Sơn
16/01/2019

Lũ lụt trên các lưu vực sông thường gây ra những hậu quả và thiệt hại nặng nề về người cũng như kinh tế, đặc biệt trong tình hình biến đổi khí hậ ...

Giải pháp khống chế ứng suất nhiệt của bê tông đầm lăn - Trường hợp áp dụng cho Đập Thủy điện Trung Sơn
10/01/2019

Với kết quả nghiên cứu giải pháp khống chế ứng suất nhiệt cho từng khu vực điển hình ở Việt Nam, bài báo đã tiến hành tính toán áp dụng cho đập BTĐL t ...

VĂN BẢN

VIDEO CLIP

SẢN PHẨM MỚI

THỐNG KÊ TRUY CẬP

  • Đang online

    48121
  • Hôm nay

    48121
  • Hôm qua

    47972
  • Tuần này

    96093
  • Tháng này

    740843
Tất cả: 4282560