Giải pháp khống chế ứng suất nhiệt của bê tông đầm lăn - Trường hợp áp dụng cho Đập Thủy điện Trung Sơn

10-01-2019

Với kết quả nghiên cứu giải pháp khống chế ứng suất nhiệt cho từng khu vực điển hình ở Việt Nam, bài báo đã tiến hành tính toán áp dụng cho đập BTĐL thủy điện Trung Sơn và kiến nghị giảm nhiệt độ khối đổ xuống từ 21o C xuống 20o C và tăng hàm lượng PGK tro bay nhiệt điện từ 70% lên 72,5% để đảm bảo đập BTĐL không bị nứt ở mặt thượng và hạ lưu đập.

TS. Nguyễn Minh Việt

Viện Thủy điện và năng lượng tái tạo

Tóm tắt: Với kết quả nghiên cứu giải pháp khống chế ứng suất nhiệt cho từng khu vực điển hình ở Việt Nam, bài báo đã tiến hành tính toán áp dụng cho đập BTĐL thủy điện Trung Sơn và kiến nghị giảm nhiệt độ khối đổ xuống từ 21o C xuống 20o C và tăng hàm lượng PGK tro bay nhiệt điện từ 70% lên 72,5% để đảm bảo đập BTĐL không bị nứt ở mặt thượng và hạ lưu đập.

Từ khóa: bê tông đầm lăn, phụ gia khoáng, ứng suất nhiệt, đập Trung Sơn

Summary: With the results of research solutions to thermal stress control for typical areas in Vietnam, in this paper conducted calculations apply for Trung Son RCCD and recommendations reduces initial concrete temperature from 21o C down 20o C, increase in replacement levels of mineral admixtures in concrete from 70% up 72,5% to ensure cracking on both the upstream and downstream faces of roller compacted concrete dam.

Keywords: Roller Compacted Concrete, Mineral Admixtures, Thermal Stress, Trung Son Dam

  1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Bê tông đầm lăn (BTĐL) là giải pháp công nghệ được ưu tiên hàng đầu trong xây dựng các đập lớn hồ chứa ở Việt Nam hiện nay. Do phụ thuộc vào điều kiện về địa hình nên các đập BTĐL được xây dựng chủ yếu ở 3 khu vực miền Bắc, Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ và Tây Nguyên và cũng là nơi có điều kiện về nhiệt độ và độ ẩm của môi trường khác nhau rõ rệt [1]. Đập BTĐL thường có khối tích lớn cần sử dụng nguyên liệu tại chỗ, ngoài cốt liệu chính còn dùng một lượng lớn phụ gia khoáng (PGK) hoạt tính trong khi các nhà máy nhiệt điện cung ứng nguồn PGK tro bay tập trung ở khu vực phía Bắc, nguồn PGK khai thác từ các mỏ puzơlan thiên nhiên chủ yếu từ miền Trung trở vào. Vì vậy ngoài các yếu tố chiều dày lớp đổ BTĐL và tiến độ thi công ảnh hưởng đến nhiệt và ứng suất nhiệt trong đập BTĐL[2]còn có các yếu tố về điều kiện vùng miền. Hiểu rõ ảnh hưởng của các yếu tố này sẽ khống chế được nứt đập BTĐL do ứng suất nhiệt gây ra.

2. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HỢP LÝ KHỐNG CHẾ ỨNG SUẤT NHIỆT CỦA BTĐL CHO TỪNG KHU VỰC

2.1. Cơ sở đề xuất giải pháp hợp lý

Theo nghiên cứu của tác giả có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến ứng suất nhiệt BTĐL như nhiệt độ và độ ẩm của môi trường, hàm lượng khoáng của xi măng, nhiệt độ bê tông tại khối đổ, hàm lượng PGK…. tuy nhiên các nhân tố này chịu sự chi phối lẫn nhau, vì vậy phải có giải pháp hài hòa giữa các nhân tố làm sao giảm ứng suất nhiệt nhưng vẫn đảm bảo điều kiện kinh tế và kỹ thuật của từng vùng. Đối với yếu tố điều kiện môi trường là không thể tránh khỏi, tại khu vực có sự thay đổi nhiệt độ môi trường lớn chỉ cần dùng biện pháp bảo ôn bề mặt là có thể tránh được các vết nứt mang tính bề mặt. Đối với ảnh hưởng của nhiệt độ bê tông tại khối đổ đến nhiệt độ max và trường ứng suất nhiệt trong thân đập là rõ ràng, nhiệt độ bê tông tại khối đổ giảm, ứng suất nhiệt cũng giảm theo. Nhưng việc giảm nhiệt độ bê tông tại khối đổ tương đối phức tạp và tăng chi phí thi công khi phải làm lạnh bê tông do Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, vì vậy cũng chỉ giảm đến một nhiệt độ tối thiểu thường từ 18o C đến 21o C. Ngoài hai yếu tố trên, vấn đề còn lại là hàm lượng khoáng C3A + C3S trên tổng lượng xi măng ký hiệu là C (%) và hàm lượng PGK trên tổng lượng chất kết dính (CKD) ký hiệu là F (%). Theo kết quả nghiên cứu C% tăng thì nhiệt độ max trong thân đập tăng đồng nghĩa với việc ứng suất nhiệt tăng và ngược lại F% tăng thì nhiệt độ giảm và ứng suất nhiệt giảm [3]. Việc hài hòa hai yếu tố này rất quan trọng vì ảnh hưởng trực tiếp đến khống chế ứng suất nhiệt và điều kiện cung ứng vật liệu của từng khu vực. Để xác định hàm lượng hợp lý có thể thực hiện theo sơ đồ hình 1.

Hình 1. Xác định hàm lượng khoáng C3A + C3S của xi măng và hàm lượng PGK trong CKD

 Cách xác định hàm lượng hợp lý như sau:

 - Vẽ đường quan hệ giữa ứng suất kéo lớn nhất với hàm lượng PGK khi C đã biết, có thể lấy theo loại xi măng thường dùng ở từng khu vực (đường quan hệ s~ F trên hình 1).

- Xác định ứng suất kéo cho phép của BTĐL [s] tại thời điểm xuất hiện ứng suất kéo lớn nhất.

- Từ đường quan hệ này xác định được hàm lượng PGK yêu cầu để không nứt [F] từ giá trị ứng suất kéo cho phép [s].

 - Từ [F] đã xác định ở trên, vẽ đường quan hệ giữa ứng suất kéo lớn nhất với C (quan hệ s[F] ~ C trên hình 1).

 - Từ đường quan hệ này kiểm tra lại hàm lượng khoáng C3A + C3S yêu cầu để không nứt [C].

2.2. Đề xuất giải pháp hợp lý khống chế ứng suất nhiệt cho từng khu vực

Đối với khu vực miền núi phía Bắc sử dụng xi măng có C tối đa bằng 53,5%, nhiệt độ bê tông tại khối đổ bằng 18o C thì F tối thiểu bằng 72,5% (hình 2).

Hình 2. Quan hệ giữa C và Fvới ứng suất kéo chính lớn nhất tại mặt thượng và hạ lưu đập khu vực miền núi phía Bắc Đối với khu vực Bắc

Trung bộ sử dụng xi măng có C tối đa bằng 65%, nhiệt độ bê tông tại khối đổ bằng 18o C thì F tối thiểu bằng 75% (hình 3).

Hình 3. Quan hệ giữa C và F với ứng suất kéo chính lớn nhất tại mặt thượng và hạ lưu đập khu vực Bắc Trung bộ

Đối với khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên nếu sử dụng xi măng có C tối đa bằng 70,5%, nhiệt độ bê tông tại khối đổ bằng 18o C, thì F tối thiểu bằng 74%. Nếu tăng nhiệt độ bê tông tại khối đổ lên tối đa 20o C nhưng vẫn giữ C bằng 70,5% thì F phải tăng lên 79%. Nếu giữ nhiệt độ bê tông tại khối đổ lên tối đa 20o C nhưng giảm C bằng 65% thì F giảm còn 65% như hình 4.

Hình 4. Quan hệ giữa C và F với ứng suất kéo chính lớn nhất tại mặt thượng và hạ lưu đập khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên

Tổng hợp kết quả kiến nghị cho từng vùng như bảng 1.

Bảng 1. Kiến nghị giải pháp tổng thể khống chế ứng suất nhiệt cho từng vùng

3. ÁP DỤNG CHO ĐẬP THỦY ĐIỆN TRUNG SƠN – THANH HÓA

3.1. Giới thiệu công trình

- Vị trí xây dựng:Công trình thủy điện Trung Sơn được xây dựng trên dòng chính sông Mã thuộc địa phận xã Trung Sơn, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa được khởi công xây dựng ngày 24/11/2012 và dự kiến hoàn thành trong Quý II năm 2017.

- Nhiệm vụ công trình: Sản xuất điện năng với công suất lắp đặt 260MW, bao gồm 4 tổ máy sản xuất 1.018,61 triệu kWh hàng năm là nguồn bổ sung đáng kể cho lưới điện quốc gia. Đây là một dự án đa mục tiêu, vừa cung cấp điện vừa giúp kiểm soát lũ với dung tích phòng lũ thường xuyên 112 triệu m3 .

 - Đập ngăn sông: Đập BTĐL cấp 1 với chiều cao đập lớn nhất 84,5 m, chiều dài đỉnh đập 513 m, chiều rộng đỉnh đập 8 m, chiều rộng đáy đập 82,7 m, hệ số mái hạ lưu 0,65, hệ số mái thượng lưu 0,35.

- Vùng xây dựng đập thuộc khu vực khí hậu Tây Bắc Việt Nam, chịu ảnh hưởng của gió mùa cực đới một cách gián tiếp. Độ ẩm không khí trung bình năm trong khoảng 84% ~ 89%.

 3.2. Các chỉ tiêu cơ lý và nhiệt của bê tông đầm lăn

Theo tài liệu thiết kế kỹ thuật đập BTĐL Trung Sơn của Tư vấn thiết kế [4], các chỉ tiêu cơ lý và nhiệt của BTĐL như sau:

Các chỉ tiêu cơ lý của BTĐL:

- Khối lượng riêng: 2400 kg/m3

 - Hệ số Poisson: 0,2

- Mô đun đàn hồi: 25000 MPa = 2,5×107 kN/m2

Diễn biến chỉ tiêu cơ lý của BTĐL theo thời gian:

Các chỉ tiêu về nhiệt của BTĐL:

Bảng 2. Các chỉ tiêu về nhiệt của BTĐL

Nhiệt thủy hóa của BTĐL:

- Khối lượng chất kết dính cho 1 m3 BTĐL: 60 kg xi măng, 140 kg tro bay, hàm lượng PGK/CKD bằng 70%.

- Tổng lượng nhiệt thủy hóa của CKD: 210 J/g

 - Nhiệt thể tích BTĐL: 1814 kJ/m3 - oC

 - Hệ số tỏa nhiệt: 0,025

Điều kiện biên về nhiệt:

 Điều kiện biên cơ bản khi tính nhiệt trong đập BTĐL bao gồm các hệ số truyền nhiệt đối lưu, nhiệt độ trung bình tháng vùng xây dựng công trình, nhiệt độ ban đầu tại khối đổ bê tông và nhiệt độ ban đầu của đá nền và nước hồ được thể hiện trên các Bảng 3 và 4.

 Bảng 3. Hệ số truyền nhiệt đối lưu

Bảng 4. Nhiệt độ ban đầu của môi trường

3.3. Tính toán nhiệt và ứng suất nhiệt đập BTĐL Trung Sơn

 3.3.1. Mô hình tính toán

Tính toán cho mặt cắt đập không tràn điển hình tiếp giáp vai phải tràn xả lũ cho ở hình 6. Mô hình hóa kết cấu đập và nền theo bài toán phẳng bằng phương pháp phần tử hữu hạn gồm 2 loại phần tử:

Phần tử tính toán nhiệt (PLANE77).

Phần tử tính toán kết cấu (PLANE182).

Đầu tiên sử dụng mạng lưới phần tử PLANE77 tiến hành phân tích trường nhiệt sau đó sử dụng phần tử PLANE182 phân tích trạng thái ứng suất biến dạng của kết cấu.

Phạm vi nền tính toán về mỗi phía bằng chiều cao đập. Mô hình PTHH đập và nền được cho ở hình 7.

3.3.2. Kết quả tính toán

Kết quả tính toán trường nhiệt độ max và ứng suất kéo chính trong thân đập tại thời điểm chênh lệch nhiệt độ max với tốc độ lên đập trung bình theo thiết kế 4 ngày/1m (1 ngày đổ, 3 ngày nghỉ) được cho ở hình 8 và hình 9. Biểu đồ ứng suất kéo chính tại mặt thượng và hạ lưu đập được cho ở hình 10. Tổng hợp kết quả tính toán cho ở bảng 5.

Kết quả tính toán cho thấy với các số liệu đầu vào của thiết kế chênh lệch nhiệt độ lớn nhất trong và ngoài đập là 19,157o C. Thời điểm xuất hiện nhiệt độ max, ứng suất kéo cho phép của bê tông bằng 1,09 MPa, tại mặt hạ lưu đập từ cao độ 22 m đến 42 m có thể xuất hiện nứt do vượt quá khả năng chịu kéo của bê tông (hình 10). Do bê tông đáy đập bị kiềm chế nên cũng xuất hiện ứng suất kéo vượt qua khả năng chịu kéo của bê tông. Vì vậy để ngăn ngừa vết nứt có thể xảy ra do nhiệt cần tiến hành giảm ứng nhiệt.

3.4. Đề xuất biện pháp giảm ứng suất nhiệt đập BTĐL Trung Sơn

Qua kết quả nghiên cứu (bảng 1) cho thấy có nhiều biện pháp để giảm ứng suất nhiệt đập BTĐL như giảm hàm lượng thành phần khoáng gây nhiệt thủy hóa chủ yếu của xi măng, giảm nhiệt độ bê tông tại khối đổ, tăng hàm lượng PGK tro bay nhiệt điện hoặc tăng khả năng chống nứt của BTĐL. Để giảm ứng suất nhiệt đập BTĐL Trung Sơn đã tiến hành giảm nhiệt độ khối đổ xuống từ 21o C xuống 20o C và tăng hàm lượng PGK tro bay nhiệt điện từ 70% lên 72,5%. Kết quả tính toán ứng suất kéo chính tại mặt thượng và hạ lưu đập được cho ở hình 11. Tổng hợp kết quả cho ở bảng 6.

Hình 11. Biểu đồ ứng suất kéo chính tại mặt thượng và hạ lưu đập với giải pháp kiến nghị

Bảng 6. Kết quả tính toán nhiệt độ và ứng suất nhiệt trong thân đập với giải pháp kiến nghị

4. KẾT LUẬN

Thông qua kết quả tính toán nhiệt và ứng suất nhiệt đập BTĐL Trung Sơn với các điều kiện đầu vào theo thiết kế ban đầu cho thấy đập có khả năng bị nứt do ứng suất nhiệt. Để giảm ứng suất nhiệt kiến nghị giảm nhiệt độ khối đổ xuống từ 21o C xuống 20o C và tăng hàm lượng PGK tro bay nhiệt điện từ 70% lên 72,5%. Từ kết quả tính toán cho ở hình 11 và bảng 6 cho thấy ứng suất kéo lớn nhất tại mặt thượng và hạ lưu đập đều giảm và nhỏ hơn ứng suất kéo cho phép của bê tông. Tại đáy đập tiếp giáp với nền xuất hiện ứng suất kéo vượt qua khả năng chịu kéo của bê tông kiến nghị xử lý bằng bê tông thường lót đáy với cường độ chịu kéo lớn hơn 1,33 Mpa

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 [1] Pham Hong Giang. Dams and Hydropower Development in Viet Nam. The International Journal on Hydropower & Dams, Issue Three, 2010: 48-52.

[2] Lê Quốc Toàn. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chỉ tiêu cơ lý theo thời gian của bê tông đầm lăn đến tiến độ thi công đập bê tông trọng lực ở Việt Nam. Luận án Tiến sĩ kỹ thuật, Trường Đại học Thủy lợi, 2016.

[3] Nguyễn Minh Việt. Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần khoáng của xi măng đến ứng suất nhiệt đập bê tông đầm lăn. Tạp chí NN và PTNT, số 17, tháng 9/2016.

[4] Thuyết minh thiết kế kỹ thuật thủy điện Trung Sơn.

Nguồn: Tạp chí khoa học và công  nghệ Thủy lợi

Tin Liên Quan
Đánh giá ảnh hưởng của các khu đô thị mới đến vấn đề thoát lũ hạ lưu hệ thống sông Kone - Hà Thanh
24/01/2019

Sự phát triển của các khu đô thị có ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề thoát lũ tại các hệ thống sông. Tuy nhiên, tại Việt Nam, vấn đề này chưa được nghiên ...

Áp dụng công cụ tích hợp phục vụ xây dựng bản đồ ngập lụt lưu vực sông Kỳ Cùng, tỉnh Lạng Sơn
16/01/2019

Lũ lụt trên các lưu vực sông thường gây ra những hậu quả và thiệt hại nặng nề về người cũng như kinh tế, đặc biệt trong tình hình biến đổi khí hậ ...

Giải pháp khống chế ứng suất nhiệt của bê tông đầm lăn - Trường hợp áp dụng cho Đập Thủy điện Trung Sơn
10/01/2019

Với kết quả nghiên cứu giải pháp khống chế ứng suất nhiệt cho từng khu vực điển hình ở Việt Nam, bài báo đã tiến hành tính toán áp dụng cho đập BTĐL t ...

VĂN BẢN

VIDEO CLIP

SẢN PHẨM MỚI

THỐNG KÊ TRUY CẬP

  • Đang online

    22203
  • Hôm nay

    22203
  • Hôm qua

    21815
  • Tuần này

    65698
  • Tháng này

    383142
Tất cả: 1217237