Liên kết web

Một số chính sách mới

         Các giải pháp phát triển kinh tế-xã hội

Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương tập trung thực hiện 10 giải pháp: tích cực cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và tính bền vững của nền kinh tế; bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn cho đầu tư phát triển; tập trung sức phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; giải quyết tốt các vấn đề xã hội; sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững; đẩy mạnh cải cách hành chính, phát huy hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước đáp ứng yêu cầu phát triển; tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí; bảo đảm vững chắc chủ quyền quốc gia, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; tăng cường hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế.
Phải tiến hành rà soát để loại bỏ ngay những giấy phép, quy định không còn phù hợp gây ách tắc, cản trở hoạt động sản xuất kinh doanh. Đổi mới thủ tục cấp đăng ký kinh doanh theo hướng hợp nhất giấy đăng ký kinh doanh và mã số thuế thành mã số doanh nghiệp trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Đẩy nhanh việc hoàn thiện hạ tầng cơ sở, công nghệ của các trung tâm giao dịch chứng khoán nhằm đáp ứng yêu cầu về tăng quy mô và mở rộng thị trường. Tăng cường giám sát hoạt động kinh doanh dịch vụ, giao dịch chứng khoán, công bố thông tin, nâng cao tính minh bạch của thị trường chứng khoán.

Sản xuất, kinh doanh phân bón

Ngày 31/12/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 191/2007/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 113/2003/NĐ-CP về việc quản lý sản xuất, kinh doanh phân bón.
Theo đó, tổ chức, cá nhân sản xuất các loại phân bón phải có hệ thống xử lý chất thải khi sản xuất để không gây ô nhiễm môi trường và bảo đảm các điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh
lao động, bảo vệ môi trường theo quy định…
Ngoài ra, tổ chức, cá nhân sản xuất các loại phân bón phải có máy móc, thiết bị phù hợp để sản xuất phân bón đạt tiêu chuẩn chất lượng; có hoặc thuê phòng phân tích kiểm nghiệm chất lượng có đủ điều kiện theo quy định của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật; có hoặc thuê ít nhất 01 cán bộ kỹ thuật chuyên môn đạt trình độ từ đại học trở lên đáp ứng công nghệ sản xuất loại phân bón đó.
Các loại phân bón gồm phân vô cơ, phân bón rễ, phân bón lá, phân đơn, phân đa yếu tố, phân hữu cơ, phân hữu cơ sinh học, phân hữu cơ truyền thống, phân trung lượng, phân vi lượng, phân đa lượng, phân phức hợp, phân trộn, phân vi sinh, phân hữu cơ vi sinh, phân hữu cơ khoáng, phân có bổ sung chất điều hòa sinh trưởng, chất hỗ trợ tăng hiệu suất sử dụng phân bón, phân bón đất hiếm, giá thể cây trồng, chất phụ gia phân bón, chất giữ ẩm trong phân bón và chất cải tạo đất.

Quản lý chi phí đầu tư xây dựng

Ngày 07/01/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 03/2008/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 99/2007/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình.
Theo đó, chủ đầu tư có trách nhiệm lập hồ sơ quyết toán vốn đầu tư công trình, hạng mục công trình hoàn thành để trình người quyết định đầu tư phê duyệt chậm nhất là 12 tháng đối với các dự án quan trọng quốc gia và dự án nhóm A, 9 tháng đối với dự án nhóm B và 6 tháng đối với dự án nhóm C kể từ khi công trình hoàn thành, đưa vào khai thác sử dụng. Sau 6 tháng kể từ khi có quyết định phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành, chủ đầu tư có trách nhiệm giải quyết công nợ, tất toán tài khoản của dự án tại cơ quan thanh toán, cho vay, cấp phát vốn đầu tư. Riêng các dự án do Thủ tướng quyết định đầu tư thì Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt dự toán.
Đối với những dự án đầu tư xây dựng công trình được phê duyệt trước ngày 21/7/2007 nhưng chưa triển khai thực hiện hoặc đang thực hiện, trường hợp cần thực hiện các quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình bao gồm: tổng mức đầu tư; dự toán xây dựng công trình; định mức và giá xây dựng; hợp đồng trong hoạt động xây dựng; thanh toán, quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình thì chủ đầu tư báo cáo người quyết định đầu tư xem xét quyết định…

Sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch

Ngày 02/01/2008, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 01/2008/TT-BXD hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 117/2007/NĐ-CP về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch.
Theo đó, k
hi lập dự án đầu tư xây dựng mới công trình cấp nước ở những nơi chưa có hệ thống cấp nước tập trung, chủ đầu tư và tổ chức tư vấn lập dự án phải phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức điều tra xã hội học, tham vấn, lấy ý kiến cộng đồng trong phạm vi phục vụ của dự án về cam kết đấu nối và sự sẵn sàng chi trả. Khi lấy ý kiến phải thông tin cho cộng đồng biết những nội dung cơ bản của dự án về quy mô đầu tư, chất lượng dịch vụ sau khi hoàn thành, phương án giá nước, nhu cầu sử dụng đất, tiến độ thực hiện...
Nước sạch phải bảo đảm chất lượng theo quy định trên toàn hệ thống từ sau công trình xử lý đến người trực tiếp sử dụng. Đơn vị cấp nước có trách nhiệm kiểm tra và bảo đảm chất lượng nước sạch trên hệ thống cấp nước do mình quản lý.
Khi có sự cố hoặc khiếu nại của khách hàng sử dụng nước về chất lượng nước sạch được cung cấp, đơn vị cấp nước có trách nhiệm kiểm tra hệ thống cấp nước do mình quản lý hoặc hệ thống đường ống, thiết bị sau điểm đấu nối của khách hàng sử dụng nước để xác định nguyên nhân và có phương án khắc phục sự cố. Việc tổ chức khắc phục sự cố sau điểm đấu nối do khách hàng sử dụng nước thực hiện

Chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc

Ngày 31/12/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 198/2007/QĐ-TTg về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn.
Theo đó, các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo sống phân tán ở vùng cao, núi đá, khu vực khó khăn về nguồn nước sinh hoạt sẽ được Nhà nước hỗ trợ bình quân 0,5 tấn xi măng hoặc 400.000 đồng/hộ để xây dựng bể chứa nước mưa, đào giếng nước...; nếu chưa có nhà ở hoặc nhà ở quá tạm bợ và đã hư hỏng sẽ được ngân sách trung ương hỗ trợ 6 triệu đồng/hộ để làm nhà ở...
UBND cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất, hạn mức đất ở và khả năng ngân sách của địa phương có thể xem xét quyết định giao đất ở cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo với mức phù hợp với điều kiện và tập quán ở địa phương.
Đối với đất do đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ đang sinh sống và sử dụng ổn định từ trước tới nay, hiện thuộc quyền quản lý của nông trường, lâm trường thì các nông trường, lâm trường tiến hành bàn giao diện tích trên cho chính quyền địa phương để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ theo quy định.
Trường hợp các địa phương khó khăn về quỹ đất, không có điều kiện giải quyết hỗ trợ đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số thì địa phương đó chủ động giải quyết thay thế bằng hỗ trợ chuyển đổi sản xuất, đào tạo nghề, giải quyết việc làm. Ngân sách địa phương bố trí kinh phí không dưới 20% so với số vốn ngân sách trung ương bảo đảm, đồng thời huy động thêm các nguồn vốn hợp pháp khác để thực hiện mục tiêu, chính sách này.

Thiết kế và tiêu chuẩn nhà ở công vụ

Ngày 11/01/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 09/2008/QĐ-TTg ban hành Quy định nguyên tắc thiết kế và tiêu chuẩn sử dụng nhà ở công vụ.
Theo đó, nhà ở công vụ phải được thiết kế phù hợp với quy hoạch được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, thuận lợi về hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội để đảm bảo điều kiện sinh hoạt của người sử dụng; phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội và quỹ đất ở của từng địa phương…
Nhà ở công vụ được thiết kế theo 3 dạng: nhà biệt thự, nhà chung cư và nhà một tầng (căn hộ) nhiều gian. Nhà biệt thự được thiết kế theo kiểu biệt thự đơn lập hoặc song lập, tối đa không quá 3 tầng, diện tích đất khuôn viên từ 350 đến 500  m
2. Nhà chung cư tại khu vực đô thị được thiết kế kiểu căn hộ khép kín, có diện tích sàn xây dựng tối thiểu 45 m2 và tối đa 150 m2. Đối với nhà ở một tầng nhiều gian tại khu vực nông thôn, mỗi gian tối đa không quá 45 m2 sàn với khu vệ sinh và bếp có thể bố trí chung hoặc riêng.
Tiêu chuẩn sử dụng nhà ở công vụ được quy định tương ứng với từng nhóm chức danh. Biệt thự loại A được bố trí cho các Ủy viên Bộ Chính trị, loại B được bố trí cho các chức danh có hệ số lương khởi điểm từ 10,4 trở lên. Căn hộ chung cư loại 1 được bố trí cho các chức danh có hệ số lương khởi điểm từ 9,7 đến dưới 10,4. Các chức danh có hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo từ 1,25 trở lên; Trung tướng, Thiếu tướng các lực lượng vũ trang được bố trí căn hộ chung cư loại 2…

Trường hợp do không có đủ loại nhà ở công vụ để bố trí đúng tiêu chuẩn thì có thể bố trí với diện tích lớn hơn nhưng không được vượt quá 10% tiêu chuẩn sử dụng nhà ở công vụ. Nếu người thuê nhà ở công vụ mang theo gia đình thì được cộng thêm diện tích của từng thành viên trong gia đình (6 m2 sàn/người).


Omard tổng hợp

TOP