Tên đề tài/ dự án: Nghiên cứu công nghệ ứng phó khẩn cấp cho các trạm thủy điện trong điều kiện biến đổi khí hậu và thiên tai bất thường. CN ĐT/DA: KS. Lê Việt Hùng.

Xây dựng được quy trình lắp đặt, vận hành “container thủy điện mini” để ứng dụng “khởi động đen” nhằm khôi phục hệ thống nguồn trong điều kiện ứng phó thiên tai tại khu vực phía Bắc Việt Nam.

Tên đề tài/ dự án: Nghiên cứu công nghệ ứng phó khẩn cấp cho các trạm thủy điện trong điều kiện biến đổi khí hậu và thiên tai bất thường. CN ĐT/DA: KS. Lê Việt Hùng.

- Đơn vị thực hiện: Viện Thủy điện và năng lượng tái tạo.

- Chủ nhiệm đề tài/ dự án: KS. Lê Việt Hùng.

- Thời gian bắt đầu/ kết thúc: Từ tháng 4/2012 đến tháng 4/2014.

Mục tiêu đề tài/ dự án:

Xây dựng được quy trình lắp đặt, vận hành “container thủy điện mini” để ứng dụng “khởi động đen” nhằm khôi phục hệ thống nguồn trong điều kiện ứng phó thiên tai tại khu vực phía Bắc Việt Nam.

Mục tiêu cụ thể:

            Dựa trên sự hợp tác nghiên cứu với Trung tâm thủy điện nhỏ Hàng Châu, Viện thủy điện nghiên cứu các vấn đề về khởi động đen cho lưới điện nông thôn và miền núi Việt Nam trong điều kiện ứng phó tình trạng khẩn cấp và nghiên cứu công nghệ chế tạo container thủy điện mini phục vụ cho khởi động đen nhằm phát triển mạng lưới thủy điện nhỏ phát triển kinh tế an sinh tại các khu vực nông thôn và miền núi.

  • Nghiên cứu các vấn đề khởi động đen;
  • Nghiên cứu xây dựng các kịch bản khôi phục mạng lưới Mộc Châu trong quá trình khởi động đen;
  • Nghiên cứu, thiết kế, lắp đặt “container thủy điện mini” công suất 100KW tại nhà máy thủy điện Suối Tân 1 nhằm phục vụ thử nghiệm khởi động đen;
  • Ứng dụng thử nghiệm khởi động đen nhằm khôi phục lưới điện huyện Mộc Châu – tỉnh Sơn La bằng “Conteiner thủy điện mini” công suất 100KW tại nhà máy thủy điện Suối Tân 1 để ứng phó với tình trạng khẩn cấp;
  • Trao đổi hợp tác đào tạo giữa hai bên;

Kết quả nghiên cứu đạt được:

  • Đối với lĩnh vực khoa học có liên quan:
  • Tạo cơ sở để tiến tới xây dựng các kế hoạch khởi động đen cho các nhà máy thủy điện trên cùng một lưu vực trong cả nước nhằm ứng phó khẩn cấp với thiên tai;
  • Nghiên cứu chế tạo được các container thủy điện công suất lớn hơn với các chủng loại khác nhau cũng như nâng cao chất lượng sản phẩm;
  • Đào tạo và nâng cao trình độ các cán bộ kỹthuật trong nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, lắp đặt thử nghiệm vận hành và sử dụng container thủy điện nhằm tập hợp xây dựng đội ngũ cán bộ kỹ thuật chuyên ngành đủ khả năng tự thiết kế, chế tạo container cung cấp cho nhu cầu thực tế trong nước;
  • Từng bước khẳng định sản phẩm mới đóng góp cho việc ứng phó thiên tai và đề ra hướng phát triển trong thời gian tới.
  • Đối với kinh tế - xã hội:
  • Tạo ra sản phẩm mới có chất lượng tương đương có thể thay thế hàng nhập ngoại, góp phần chủ động ứng phó thiên tai trong điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay nhằm thúc đẩy quá trình phục hồi nguồn điện lưới nhanh, góp phần làm giảm bớt thiêt hại do thiên tai gây ra;
  • Góp phần phát triển kinh tế xã hội tại các khu vực miền núi và nông thôn;
  • Từng bước đáp ứng được nhu cầu đồng bộ hóa trong “ khởi động đen” hệ thống nguồn của các nhà máy thủy điện trên cùng một lưu vực trong nước.

Kết luận:

            Conteiner thủy điện mini có khả năng hoạt động độc lập hoặc đấu lưới, việc vận hành đơn giản, dễ dàng không cần đến người quản lý vận hành. Mặt khác, chi phí đầu tư xây dựng rất thấp và thân thiện với môi trường, không ảnh hưởng đến sinh thái khu vực. Có khả năng ứng dụng cao và công nghệ phù hợp với công nghệ trong nước; chủ động về mô hình thiết bị thủy điện đồng bộ phục vụ quy trình khởi động đen cho các khu vực khác nhau; hướng tới chủ động nghiên cứu sản xuất thiết bị nhằm giảm giá thành sản phẩm và chủ động hoàn toàn về quá trình khởi động đen hệ thống.

Tin liên quan
TOP